- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn K; sửa bản án hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2023/HS - PT. Ngày: 08 - 11- 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhiên.
Ông Nguyễn Hải Vinh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 269/2023/TLPT-HS ngày 03/10/2023, đối với bị cáo Nguyễn Văn K, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1973;Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh B.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Con ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1937;
Con bà Nguyễn Thị L (đã chết);
Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973;
Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 187/2013/HSPT ngày 29/8/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc”, thời gian thử thách 12 tháng; chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung (phạt tiền) ngày 09/12/2013.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2021 của Công an xã Hoàng An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; chấp hành xong ngày 08/3/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2023 đến ngày 19/5/2023. Hiện tại ngoại ( Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Nguyễn Đức Tuân - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
Trong vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/5/2023, tại nhà Nguyễn Văn Thảo, sinh năm 1959 ở thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Công an huyện Hiệp Hòa phối hợp với Công an xã Hoàng An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Bạo, sinh năm 1983, Nguyễn Đình Giáp, sinh năm 1983, cùng trú tại thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa; Nguyễn Văn K, sinh năm 1963, trú tại thôn Thanh Bình, xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hòa; Nguyễn Văn Giới, sinh năm 1975, trú tại thôn Thanh Phác, xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hòa đang đánh bạc dưới hình thức đánh“phỏm”thắng thua bằng tiền.
Tang vật thu giữ : Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.250.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếu cói; 01 thảm nỉ ; 01 ống nhựa bên trong có 50.000 đồng. Thu giữ trên người Nguyễn Đình Giáp: 2.647.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Nguyễn Văn K: 1.120.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; Nguyễn Văn Giới: 20.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Nguyễn Văn Bạo: 1.300.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Nguyễn Văn Thảo: 4.420.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo. Ngoài ra còn thu giữ tại sân nhà Thảo 01 xe đạp điện không có biển kiểm soát của Giáp; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98D1-620.84 của K; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98D1-100.60 của Giới; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98D1.992.10 của Bạo.
Hình thức đánh bạc (đánh phỏm) như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài sau đó chia cho mỗi người chơi 09 quân bài, những lá bài còn lại sau khi chia đủ cho những người chơisẽ để ở giữa chiếu để mọi người bốc gọi là bài nọc. Nếu người chơi có bộ 03 lá bài đồng chất có thứ tự liên tiếp nhau hoặc 03 lá bài cùng giá trị thì gọi là “phỏm”. Những lá bài không tạo thành phỏm hoặc không làm cạ với lá bài khác là bài thừa. Nếu bộ bài của người chơi cầm trên tay tạo thành ba phỏm thì gọi là “ù” và những người chơi khác mỗi người sẽ mất số tiền 150.000 đồng cho người “ù”.Trong trường hợp không có ai “ù” thì những người chơi sẽ hạ phỏm, rồi tiến hành cộng điểm các quân bài thừa còn lại để tìm ra người nhất, nhì, ba, bét (cách tính điểm từ thấp đến cao, người ít điểm nhất sẽ được nhất và thắng ván đó, nếu cùng điểm sẽ tính ai hạ bài trước sẽ thắng, nếu không có phỏm sẽ tính là móm). Người về nhì sẽ bị mất 40.000 đồng, người về ba sẽ bị mất 60.000 đồng, người bét sẽ bị mất 80.000 đồng và người nào “móm” sẽ bị mất 100.000 đồng cho người nhất. Khi đánh bạc, nếu có ai được “ù” thì sẽ nộp cho Thảo 30.000 đồng/lần ù (gọi là tiền hồ) và Thảo chuẩn bị 01 hộp nhựa để tại chiếu để các đối tượng để tiền hồ.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 10/5/2023, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Giới, Nguyễn Văn Bạo đến nhà Nguyễn Văn Thảo chơi và rủ Thảo đánh phỏm ăn tiền. Thảo đồng ý chuẩn bị chiếu, quân bài sau đó trực tiếp tham gia đánh phỏm cùng K, Bạo, Giới. Đến khoảng 14 giờ, Nguyễn Đình Giápđến nhà Thảo, lúc này Thảo không đánh bạc nữa thì Giáp vào tham gia đánh bạc cùng K, Bạo, Giới còn Thảo ngồi xem. Các đối tượng đánh bạc đến 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bắt quả tang.
Khi tham gia đánh bạc, Thảo sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc cùng K, Giới, Bạo và hòa tiền. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người Thảo số tiền 4.420.000 đồng, trong đó có 800.000 đồng để đánh bạc, còn lại 3.620.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc. Mục đích Thảo cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình để cùng đánh bạc với các đối tượng và thu tiền hồ.
Nguyễn Văn K sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc cùng Thảo, Giới, Bạo, Giáp. Quá trình đánh bạc, K ù 01 ván nên đã bỏ vào trong hộp nhựa tại chiếu bạc 50.000 đồng tiền hồ. Khi bị bắt, K cất 1.220.000 đồng trên người, số tiền còn lại để tại chiếu bạc.
Khi đến nhà Thảo, Nguyễn Văn Giới mang theo 2.420.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 2.400.000 đồng để đánh bạc cùng Thảo, K, Bạo, Giáp. Khi bị bắt, Giới đang bị thua và bỏ toàn bộ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc. Còn 20.000 đồng cất trên người Giới không sử dụng đánh bạc. Vì là số tiền nhỏ, bị cáo không đề nghị được trả lại 20.000 đồng.
Nguyễn Văn Bạo mang theo và sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc. Đến khi bị bắt quả tang, Bạo đang thắng và bỏ toàn bộ số tiền thắng tại chiếu bạc, còn 1.300.000 đồng Bạo cất trên người.
Nguyễn Đình Giáp mang theo 3.347.000 đồng đến nhà Thảo nhưngGiáp chỉ bỏ ra 700.000 đồng để đánh bạc cùng K, Bạo, Giới. Khi bị bắt, Giáp bỏ toàn bộ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc. Số tiền 2.647.000 đồng cất trên người Giáp không sử dụng vào việc đánh bạc.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 05 chiếc điện thoại di động; 01 xe đạp điện không có biển kiểm soát và 04 xe mô tô thu giữ khi bắt quả tang là tài sản hợp pháp của các bị can, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra các bị cáo Thảo, K, Giới, Bạo mỗi bị cáo tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa để đảm bảo thi hành án, đồng thời có đơn xin lại tài sản. Ngày 29/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã quyết định xử lý vật chứng trả choThảo, K, Giới, Bạo điện thoại và xe đã thu giữ.
Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 27/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Giới, Nguyễn Văn Bạo, Nguyễn Đình Giáp về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321của Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/5/2023 đến ngày 19/5/2023).
Ngoài ra bản án còn tuyên xử phạt các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/8/2023, bị cáo Nguyễn Văn K kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo;
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn K rút một phần kháng cáo về nội dung xin được hưởng án treo, chỉ kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do: Án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội. Bị cáo xuất trình các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đó là bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo là người khuyết tật, được nhà nước trợ cấp hàng tháng, mỗi tháng là 540.000 đồng.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn K, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo K 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo di thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/5/2023 đến ngày 19/5/2023. Bị cáo Nguyễn Văn K là người khuyết tật nên không phải chịu án phí hình sự phúc.
Bị cáo Nguyễn Văn K không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K trình bày Luận cứ:Đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K xuất trình các tình tiết mới để xin giảm nhẹ hình phạt đó là: Bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo là người khuyết tật, hàng tháng được nhà nước trợ cấp. Do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn K nhất trí Luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì thêm.
Đối đáp của đại diện VKS: Về quan điểm của Luật sư cơ bản như quan điểm của Viện kiểm sát đã phát biểu, tuy nhiên về hình phạt Luật sư đề nghị xử phạt bị cáo K từ 06 đến 07 tháng tù là không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.
Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm của mình.
Bị cáo Nguyễn Văn K nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn K thì thấy: Ngày 10/5/2023, tại nhà ở của mình ở thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn Thảo chủ nhà là người chuẩn bị quân bài, chiếu và tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm, được thua bằng tiền cùng Nguyễn Văn Bạo, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Giới. Khi Thảo không đánh phỏm nữa thì Nguyễn Đình Giáp tiếp tục tham gia đánh phỏm cùng các bị cáo Nguyễn Văn Bạo, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Giới. Căn cứ lời khai của các bị cáo, số tiền thu trên chiếu và số tiền thu trên người các bị cáo thì xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.620.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn K về tội “ Đánh bạc”; là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K thấy: Tại phiên tòa, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Văn K không phải chịu tình tiếp tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo K bị khuyết tật nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn K là người có nhân thân xấu, tại Bản án số 187/2013/HSPT ngày 29/8/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc”, thời gian thử thách 12 tháng. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPVPHC ngày 12/02/2021 của Công an xã Hoàng An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K với mức án 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn K xuất trình được các tình tiết gì mới đó là: Bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo là người khuyết tật, hàng tháng được nhà nước trợ cấp. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; chưa được áp dụng cho bị cáo tại cấp sơ thẩm. Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn K được chấp nhận và bị cáo là người khuyết tật, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn K; sửa bản án hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/5/2023 đến ngày 19/5/2023).
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Miễn nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn K.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |