- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2022/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 181/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với:
Lê Văn C, sinh ngày: 25/11/1994 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D - sinh năm: 1962 và bà Nguyễn Thị H (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 131/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/2018 (đã được xoá án tích);
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 22/6/2022, tổ công tác Công an xã L, huyện M làm nhiệm vụ tại bản B, xã L, huyện M, tiến hành kiểm tra đối với Lê Văn C đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Lê Văn C đang cất giấu trong túi quần bên phải 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là Heroine. C khai nhận đó là Heroine của C cất giấu để sử dụng cho bản thân nghiện ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Lê Văn C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Lê Văn C bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.
Ngày 22/6/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lê Văn C có khối lượng 0,22 gam, lấy toàn bộ 0,22 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.
Tại Kết luận giám định số 1131/KL-KTHS ngày 27/6/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,22 gam; loại Heroine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 21/6/2022, C đi xe khách từ xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An đến huyện M, tỉnh Sơn La để tìm việc làm thuê. Khi xe đi đến huyện M, C xuống xe và đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết từ thị trấn M đến xã L, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến bản B, xã L, C xuống xe đi bộ đến bản B, xã L. Trên đường đi C gặp và hỏi mua được 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, C cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi đi về, trên đường đi về đến bản B, xã L thì gặp tổ công tác Công an xã L, huyện M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 12/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Lê Văn C, bắt ngày 22/6/2022 (một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy đối với Lê Văn C, ngày 22/6/2022.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo Lê Văn C nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã L, huyện M thu giữ vào ngày 22/6/2022 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã L, huyện M lập vào hồi 12 giờ 15 phút ngày 22/6/2022; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản Kết luận giám định số 1131/KL-KTHS ngày 27/6/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,22 gam; loại Heroine” nằm trong danh mục I, số thứ tự 9 tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 22/6/2022 bị cáo Lê Văn C đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lê Văn C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo đã có 01 tiền án ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Lê Văn C, bắt ngày 22/6/2022 (một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy đối với Lê Văn C, ngày 22/6/2022. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo Lê Văn C và người lái xe ôm chở bị cáo đi vào xã L, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Lê Văn C, bắt ngày 22/6/2022 (một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư do Bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ: test thử ma túy đối với Lê Văn C, ngày 22/6/2022.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Long Bình |