- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Bích P/Nguyễn Minh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:181/2022/HNGĐ-ST Ngày 21/6/2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tôi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Mỹ Hòa;
2. Bà Trần Thị Khuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 151/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bích P, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Thôn G, xã Ân Tường Đông, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Thôn G, xã Ân Tường Đông, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 01/4/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích P trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 02/8/2012, có tổ chức lễ cưới theo tập quán ở địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sinh sống hòa thuận cùng gia đình nhà chồng. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có với nhau 02 con chung. Đến năm 2020, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T thường xuyên ăn chơi, rượu chè, không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Nay, xét thấy không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Minh T.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/9/2016 đang ở với bà, nay bà yêu cầu Tòa án tiếp tục giao 02 con cho bà nuôi dưỡng; không yêu cầu ông Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 26/5/2022, bà Huỳnh Thị Bích P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
- Tại bản tự khai ngày 12/5/2022, bị đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị Bích P tìm hiểu nhau thời gian ngắn, sau đó tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 02/8/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình nhà chồng và đã sinh được 02 người con chung. Đến năm 2019 thì ông T không biết nguyên nhân vì sao bà P bỏ đi sống nơi khác, từ đó đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa.Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Bích P.
Về con chung: Ông Nguyễn Minh T chấp nhận giao 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/9/2016, cho bà Huỳnh Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng; tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho 02 đứa con đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 20/5/2022, ông Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Huỳnh Thị Bích P, ông Nguyễn Minh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T.
Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/9/2016 cho bà Huỳnh Thị Bích P tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Minh T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho 02 đứa con đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích P có đơn yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Minh T. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Minh T có hộ khẩu thường trú tại xã Ân Tường Đông, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.
Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 02/8/2012 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại gia đình nhà chồng, có với nhau 02 con chung. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, đến đầu năm 2020, vợ chồng bà P, ông T xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và đã không còn chung sống từ năm 2020. Nay, bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được và đã thống nhất thuận tình ly hôn; việc thuận tình ly hôn giữa bà P, ông T là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Tại Tòa bà P yêu cầu nuôi 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/9/2016, hai cháu hiện đang được bà P nuôi dưỡng ổn định, yêu cầu đó đã được ông T chấp nhận nên Hội đồng xét xử cần công nhận việc thỏa thuận nuôi con giữa bà P và ông T là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị Bích P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; ông Nguyễn Minh T tự nguyện cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng cho 02 con đến khi các con đủ 18 tuổi, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của ông T.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; bị đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thị Bích P và ông Nguyễn Minh T.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/9/2016 cho bà Huỳnh Thị Bích P tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Minh T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Minh T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho 02 đứa con, kể từ tháng 7/2022 trở đi cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Bích P phải nộp 75.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu số 00010591, ngày 04/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân và còn được nhận lại 225.000 đồng; Ông Nguyễn Minh T phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
7. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh; - Chi cục THA; - Các bên đương sự; - UBND xã Quốc Thái, h.An Phú, t.An Giang; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tôi |