vanban.org

Bản án 181/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Long An Tuyên án 26/05/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Gạo.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Tân Hưng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Gạo về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hiền Thảo và ông Phạm Ngọc Hân phải liên đới trả số tiền “Hụi” là 511.000.000 đồng (năm trăm mười một t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị G "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị Hiền T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Gạo.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2021/DS-PT
Ngày: 26-5-2021
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Quốc

Các Thẩm phán:

Bà Trịnh Thị Phúc

Ông Nguyễn Văn Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2021/TLPT-DS ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Tân Hưng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2021/QĐ-PT ngày 10 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Gạo, sinh năm 1968. Địa chỉ cư trú: Ấp Cái Tràm, xã Vĩnh Thạnh, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Thị Hiền Thảo, sinh năm 1977.

2. Ông Phạm Ngọc Hân, sinh năm 1976.

Cùng địa chỉ cư trú: Số nhà 24, đường Hoàng Hoa Thám, khu phố Gò Thuyền A, thị trấn Tân Hưng, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: bà Phạm Thị Gạo, nguyên đơn.

(bà Gạo xin xét xử vắng mặt; ông Hân có mặt; bà Thảo được tống đạt hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 02 năm 2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 02/11/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Gạo trình bày:

Bà Gạo làm chủ hụi, bà Thảo tham gia hụi, bà Thảo đã lĩnh hụi, nhưng chưa góp hụi lại, bà Gạo góp thay. Nay bà Gạo yêu cầu bà Thảo, ông Hân liên đới trả tiền như sau:

Dây hụi ngày 16/10/2017 âm lịch nhằm ngày 03/12/2017, bà Gạo tổ chức hụi tháng, có 15 người tham gia, gồm 24 phần, mỗi phần là 4.000.000 đồng, bà Thảo có tham gia 03 phần, hụi mãn vào ngày 14/10/2019, bà Thảo đã lĩnh hụi vào ngày 02/01/2018 được số tiền 66.000.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.000.000 đồng, bà Thảo còn 64.000.000 đồng, ngày 02/02/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 66.000.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.000.000 đồng, bà Thảo còn 64.000.000 đồng, ngày 02/03/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 68.000.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.000.000 đồng, bà Thảo còn 66.000.000 đồng. Sau đó, bà Thảo có góp hụi đến tháng 5/2019 thì bà Thảo không góp tiếp, bà Gạo góp thay 05 lần, cho 03 phần, mỗi phần 4.000.000 đồng (05 lần x 03 phần x 4.000.000 đồng = 60.000.000 đồng) thành tiền là 60.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 10/01/2018 âm lịch nhằm ngày 25/2/2018, bà Gạo tổ chức hụi tháng, có 18 người tham gia, gồm 26 phần, mỗi phần 3.000.000 đồng, bà Thảo có tham gia 04 phần, hụi mãn vào tháng 04 năm 2020, bà Thảo đã lĩnh hụi vào ngày 23/06/2018 được số tiền 54.840.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 1.500.000 đồng, bà Thảo còn 53.340.000 đồng, ngày 20/08/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 54.950.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 1.500.000 đồng, bà Thảo còn 53.450.000 đồng, ngày 19/09/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 54.950.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 1.500.000 đồng, bà Thảo còn 53.450.000 đồng, ngày 16/11/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 54.320.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi số tiền 1.500.000 đồng, bà Thảo còn 52.820.000 đồng. Sau đó, bà Thảo có góp hụi đến tháng 07 năm 2019 thì bà Thảo không góp tiếp, bà Gạo góp thay 08 lần, cho 04 phần, mỗi phần 3.000.000 đồng (08 lần x 04 phần x 3.000.000 đồng = 96.000.000 đồng) thành tiền là 96.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 22/6/2018 âm lịch nhằm ngày 03/7/2018, bà Gạo tổ chức hụi tháng, có 18 người tham gia, gồm 25 phần, mỗi phần là 5.000.000 đồng, bà Thảo có tham gia 02 phần, hụi mãn vào tháng 7 năm 2020, bà Thảo đã lĩnh hụi vào ngày 28/11/2018 được số tiền 86.500.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000 đồng, bà Thảo còn 84.000.000 đồng, ngày 28/12/2018 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 88.400.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000 đồng, bà Thảo còn 85.900.000 đồng. Sau đó, bà Thảo có góp hụi đến tháng 5/2019 thì bà Thảo không góp hụi nữa, bà Gạo góp thay 13 lần, cho 02 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng (13 lần x 02 phần x 5.000.000 đồng = 130.000.000 đồng) thành tiền là 130.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 27/9/2018 âm lịch nhằm ngày 04/11/2018, bà Gạo tổ chức hụi tháng, có 18 người tham gia, gồm 23 phần, mỗi phần là 5.000.000 đồng, bà Thảo có tham gia 02 phần, hụi mãn vào tháng 9 năm 2020, bà Thảo đã lĩnh hụi vào ngày 4/11/2018 được số tiền 78.750.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000 đồng, bà Thảo còn 76.250.000 đồng, ngày 01/02/2019 bà Thảo lĩnh hụi được số tiền 78.400.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000 đồng, bà Thảo còn 75.900.000 đồng. Sau đó, bà Thảo có góp hụi đến tháng 5/2019 thì bà Thảo không góp hụi nữa, bà Gạo góp thay 15 lần, cho 02 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng (15 lần x 02 phần x 5.000.000 đồng = 150.000.000 đồng) thành tiền là 150.000.000 đồng.

Dây hụi ngày 27/9/2018 âm lịch nhằm ngày 04/11/2018, bà Gạo tổ chức hụi tháng, có 20 người tham gia, gồm 23 phần, mỗi phần là 5.000.000 đồng, bà Thảo có tham gia 01 phần, hụi mãn vào tháng 9 năm 2020, bà Thảo đã lĩnh hụi vào ngày 4/11/2018 được số tiền 82.500.000 đồng, trừ tiền đầu thảo cho chủ hụi 2.500.000 đồng, bà Thảo còn 80.000.000 đồng. Sau đó, bà Thảo có góp hụi đến tháng 5/2019 thì bà Thảo không góp hụi nữa, bà Gạo góp thay 15 lần, cho 01 phần, mỗi phần 5.000.000 đồng (15 lần x 01 phần x 5.000.000 đồng = 75.000.000 đồng) thành tiền là 75.000.000 đồng.

Do đó, bà Gạo khởi kiện yêu cầu bà Thảo, ông Hân liên đới trả tổng số tiền còn nợ là 511.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 12 tháng 06 năm 2020 bị đơn bà Nguyễn Thị Hiền Thảo trình bày: Từ năm 2016 đến 2019 có vay tiền rất nhiều lần của bà Gạo, do chị trực tiếp giao dịch, các bên không có gặp trực tiếp mà giao dịch qua điện thoại thì bà Gạo hoặc con gái bà Gạo đem tiền đến nhà, nếu bà Gạo không đem tiền đến nhà được thì bà viết biên nhận đưa cho ông Nguyễn Văn Hào là xe hon da ôm đến nhà bà Gạo để nhận tiền. Việc trả lãi cũng vậy, do bà Gạo đến nhà nhận hoặc nhờ ông Hào đem xuống giao cho bà Gạo. Còn việc bà Gạo khởi kiện bà tham gia hụi là hoàn toàn không có. Nay không đồng ý theo yêu cầu của bà Gạo.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05 tháng 06 năm 2020 và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Ngọc Hân trình bày: Thừa nhận vợ ông là Nguyễn Thị Hiền Thảo có vay tiền rất nhiều lần của bà Gạo, do vợ ông trực tiếp giao dịch. Đến ngày 26/06/2019 vợ ông đã chốt nợ với bà Gạo thì chỉ còn nợ vay số tiền 275.000.000 đồng. Ngoài ra vợ chồng ông không có tham gia hụi với bà Gạo. Nay không đồng ý theo yêu cầu của bà Gạo.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Tân Hưng căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 288, 471 và Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tuyên xử:

Không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Gạo yêu cầu bà Nguyễn Thị Hiền Thảo, ông Phạm Ngọc Hân liên đới trả số tiền “Hụi” là 511.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.

Ngày 31/12/2020, bà Phạm Thị Gạo kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Gạo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bà Gạo không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; ông Hân có ý kiến trình bày thống nhất với các ý kiến đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tính hợp lệ của kháng cáo: đơn kháng cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về chấp hành pháp luật: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về giải quyết yêu cầu kháng cáo:

Bà Thảo, ông Hân không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Gạo và không thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà Gạo làm chủ hụi. Bà Gạo cung cấp danh sách hụi có tên bà Thảo, ông Hân nhưng không có chữ ký, những người làm chứng khai biết được bà Thảo, ông Hân tham gia hụi là do bà Gạo nói lại, không trực tiếp chứng kiến việc bà Thảo, ông Hân mở hụi, lĩnh hụi hoặc góp hụi, còn ông Hào thừa nhận có nhận tiền từ bà Gạo đem về cho bà Thảo và từ bà Thảo giao cho bà Gạo nhưng ông Hào không biết việc giao dịch giữa các bên, không biết là tiền gì. Bà Gạo không còn chứng cứ gì khác để chứng minh bà Thảo, ông Hân còn nợ tiền hụi 511.000.000 đồng. Mặt khác, ông Hân cung cấp 01 tờ giấy xác nhận do bà Gạo viết ngày 26/06/2019 thể hiện bà Thảo chỉ còn nợ bà Gạo 275.000.000 đồng. Phần nợ này bà Gạo đã khởi kiện được Tòa án giải quyết xong. Vì vậy, kháng cáo của bà Gạo không có căn cứ chấp nhận, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xét xử theo trình tự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại các Điều 26, 35, 39, 68 và 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, bản án sơ thẩm đảm bảo thủ tục tố tụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Gạo có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hân có mặt, bà Thảo đã được tống đạt hợp lệ. Do đó Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo:

Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Gạo thấy rằng:

Bà Gạo khởi kiện yêu cầu bà Thảo, ông Hân phải liên đới trả tiền nợ hụi là 511 triệu đồng vì cho rằng bà Thảo, ông Hân tham gia góp hụi, bà Gạo là chủ hụi đã góp thay phần hụi chưa góp của bà Thảo, ông Hân. Bà Thảo và ông Hân thì trình bày ông bà có vay tiền của bà Gạo nhiều lần và đến ngày 26/6/2019 bà Gạo có viết biên nhận xác nhận ông bà chỉ còn nợ tiền vay của bà Gạo là 275 triệu đồng, mọi giấy tờ khác không còn giá trị nữa và sau đó đã thi hành xong bản án liên quan đến số tiền này, ngoài ra không có tham gia hụi với bà Gạo.

Bà Gạo có cung cấp cho Tòa án danh sách các hụi viên tham gia các dây trong đó có tên của bà Thảo, ông Hân nhưng không có chữ ký của bà Thảo, ông Hân và ông Hân, bà Thảo cũng không thừa nhận các bản danh sách này; bà Gạo cung cấp lời khai của những người tham gia chơi hụi và họ khai chỉ nghe bà Gạo nói bà Thảo, ông Hân tham gia hụi, không trực tiếp chứng kiến; bà Gạo cung cấp lời khai của ông Hào và ông Hào khai có nhận tiền từ bà Gạo đưa cho bà Thảo, từ bà Thảo đưa cho bà Gạo nhưng ông không biết tiền gì, bao nhiêu. Ngoài ra, bà Gạo không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.

Như vậy với những tình tiết, giấy tờ, lời khai của những người làm chứng nêu trên, xét thấy đây không phải là chứng cứ chứng minh bà Thảo và ông Hân có tham gia chơi các phần hụi do bà Gạo làm chủ hụi. Do vậy, việc bà Gạo khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ hụi 511 triệu đồng là không có cơ sở, bản án sơ thẩm xử bác yêu cầu của bà Gạo là có căn cứ. Bà Gạo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào khác nên không được chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Bà Gạo phải chịu án phí phúc thẩm do bị bác yêu cầu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Gạo.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Tân Hưng.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ; Điều 26, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Gạo về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hiền Thảo và ông Phạm Ngọc Hân phải liên đới trả số tiền “Hụi” là 511.000.000 đồng (năm trăm mười một triệu đồng).

2. Về án phí:

- Bà Phạm Thị Gạo phải chịu 24.440.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 12.780.000 đồng theo biên lai số 0008131 ngày 19/02/2020 và biên lai số 0005707 ngày 03/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hưng; bà Gạo còn phải nộp tiếp 11.660.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Phạm Thị Gạo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005767 ngày 31/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hưng; bà Gạo đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ