- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ vụ Hồng-Hương"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Mai Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2020/HNGĐ-ST Ngày 28-7-2020 V/v Ly hôn, nuôi con chung giữa chị H và anh H1” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Nguyễn Ngọc Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2020/QĐST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 4B, xã Hải Ph, huyện HH, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Mai Văn H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 4B, xã Hải Ph, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(chị H xin vắng mặt; anh H1 vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 4 năm 2020 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Mai Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 25-8-2014 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Ph, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, chị H và anh H1 chung sống tại xóm 4B, xã Hải Ph. Vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến cuộc sống chung của hai người không hạnh phúc. Do không thể chung sống được nên từ ngày 15-8-2019, chị H đã phải đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, hai người sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm đối với nhau từ thời gian đó. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên chị H đề nghị được ly hôn anh H1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Mai Nguyễn Kim Ng, sinh ngày 13-12-2016 và cháu Mai Tuấn T, sinh ngày 23-01-2018. Hiện cháu Ng đang ở với chị H, cháu T đang ở với anh H1 và ông bà nội. Khi ly hôn, chị H nhận tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngân còn cháu Tú sẽ do anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và công nợ: Do vợ chồng không có tài sản, không vay nợ chung nên chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Mai Văn H1 đến Tòa án để nhận các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H1 đều vắng mặt. Do không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh H1 nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để anh H1 thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình gữa chị H và anh H1. Tuy nhiên, anh H1 vẫn không có mặt, không nộp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ cũng như văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt; anh Mai Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H1 theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Mai văn H1 kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hải Ph, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày 25-8-2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi nhau dẫn đến vợ cH không hạnh phúc. Do không thể chung sống được nên chị H đã phải về nhà bố mẹ đẻ để ở từ ngày 15-8-2019, hai người sống ly thân nhau từ thời gian đó. Đến nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh H1.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Mai Văn H1, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử nhận định: Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh H1 đã phát sinh mâu thuẫn, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ để ở, thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng hai người không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Mặt khác, anh H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, anh H1 đã biết được việc chị H làm đơn xin ly hôn nhưng đến nay, anh H1 không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh H1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Mai Văn H1 là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Mai Văn H1 có 02 con chung là cháu Mai Nguyễn Kim Ng, sinh ngày 13-12-2016 và cháu Mai Tuấn T, sinh ngày 23-01-2018, hiện cháu Ng đang ở với chị H, cháu T đang ở với anh H1 và ông bà nội. Khi ly hôn, chị H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ng còn cháu T sẽ do anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Xét yêu cầu của chị H về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau ly hôn thì thấy: Hiện nay cháu Ng đang ở với chị H, cháu T đang ở với anh H1, chị H có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng chăm sóc cháu Ng còn cháu T sẽ do anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Đến nay anh H1 cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H; giao con chung là cháu Mai Nguyễn Kim Ng, cho chị H, giao cháu Mai Tuấn T cho anh H1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và công nợ: Do chị Nguyễn Thị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ, đến nay anh H1 cũng không có ý kiến gì về việc gải quyết tài sản và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Mai Văn H1.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Mai Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 13-12-2016 cho chị Nguyễn Thị H; giao cháu Mai Tuấn T, sinh ngày 23-01-2018 cho anh Mai Văn H1. Chị H, anh H1 có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi mình. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây anh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0002061 ngày 22-4-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Cấp cho đương sự: (2 bản); - TAND tỉnh Nam Định: (1 bản); - VKSND tỉnh+huyện: (2 bản); - Chi cục THADS huyện: (1 bản); - UBND xã Hải Ph: (1 bản); - Lưu hồ sơ: (1 bản); - Lưu văn phòng: (1 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Ái |