vanban.org

Bản án 181/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 20/12/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Mạnh C, Phạm Văn Ch phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Bùi Mạnh C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Bùi Mạnh Cường CDB - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Mạnh C, Phạm Văn Ch phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2019/HS-ST
Ngày 20/12/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, tØnh Qu¶ng Ninh

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạ

Bà Bàng Thị H

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 173/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2019/HSST - QĐ ngày 26/11/2019 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 01/2019/TB-TA ngày 09/12/2019 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Bùi Mạnh C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/11/1998 tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT: Tổ 1, khu 6, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Tổ 2, khu Tân Lập 1, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Bá Mạnh và bà: Hà Thị Thanh Xuân; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 04/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm Phả, có mặt.

2.Họ và tên: Phạm Văn Ch, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/11/1997 tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 103, khu 8A, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Thành Khoản và bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 05/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm Phả, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1997; nơi ĐKNKTT: Tổ 20, khu Đông Hải 2, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

2. Bà Phạm Thị Liên, sinh năm 1970; nơi ĐKNKTT: Tổ 20, khu Đông Hải 2, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; nơi ĐKHKTT: Tổ 103, khu 8A, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Tú Anh, sinh năm 1999; nơi ĐKNKTT: Tổ 3, khu 4A, phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

2. Anh Phạm Thanh Bình, sinh năm 1993; nơi ĐKNKTT: Tổ 5, khu Hòa Lạc, phường Cẩm Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

3. Anh Phạm Văn Kiên, sinh năm 1998; nơi ĐKNKTT: Tổ 13B, khu 1B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

(Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng đều vắng mặt, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/9/2019, tại tổ 5, khu 6C, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Bùi Mạnh C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bán kiếm lời. Thu giữ của C: 01 vỏ hộp bao diêm, bên trong có 04 viên nén mầu H và 01 túi nilon kích thước (4,2x6,5)cm chứa 02 viên nén mầu H; 01 điện thoại di động Zipmobile màu xanh đen, lắp sim số 0359347887; số tiền 70.000 đồng; 01 phiếu cầm đồ và 01 xe máy Vespa, biển kiểm soát (BKS) 14U1-175.32.

Tại bản kết luận giám định số: 707/GĐMT ngày 08/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 04 viên nén màu H kí hiệu M1, 02 viên nén màu H kí hiệu M2 là ma túy; loại MDMA; khối lượng như sau: M1: 2.391 gam, M2: 0.989 gam.

Quá trình điều tra, Bùi Mạnh C khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 04/9/2019, Lê Tú Anh (thường gọi là Béc dê) là bạn bè xã hội hỏi mua của C 10 viên ma túy thuốc lắc với giá 300.000 đồng/1 viên và C đồng ý. Sau đó, tại Quảng trường 12/11, C cầm 3.000.000 đồng và xe máy của Tú Anh đi đến nhà Phạm Văn Ch ở phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh để mua 20 viên ma túy thuốc lắc với giá là 300.000 đồng/ 1 viên. Tại khu vực Hồ Cao Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, C đã gặp và đưa cho Ch 4.000.000 đồng. Do chỉ có 4.000.000 đồng nên Ch chỉ bán cho C 15 viên ma túy thuốc lắc với giá 4.500.000 đồng và cho C nợ 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy C quay về đưa cho Tú Anh 09 viên ma túy thuốc lắc và trả xe máy cho Tú Anh. Còn 06 viên ma túy thuốc lắc C cho 04 viên vào hộp diêm và 02 viên vào túi nilon rồi cất vào trong túi quần mục đích có ai hỏi mua thì bán với giá 450.000 đồng/01 viên. Sau đó, C nhờ Phạm Thanh Bình chở C đến quán Karaoke O2 ở phường Cẩm Bình để đánh nhạc, khi đến khu vực quán Karaoke Zone 9 thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ những vật chứng nêu trên.

Căn cứ lời khai của Bùi Mạnh C, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở và giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn Ch và thu giữ: 01 túi nilon mầu trắng kích thước (9x11)cm bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước( 2,8x3)cm chứa chất tinh thể mầu trắng; 02 túi nilon kích thước(2,8x3)cm bên trong mỗi túi đều chứa 02 viên nén mầu H; 02 túi nilon kích thước(4x7,3)cm, bên trong đều chứa thực vật khô thái nhỏ; 01 điện thoại di động mầu đen bạc bàn phím bấm lắp sim số 0395054605; 01 điện thoại di động Iphone mầu H lắp sim số 0327757111; số tiền 1.600.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen BKS 14U1 - 385.28.

Tại bản kết luận giám định số: 710/GĐMT ngày 08/9/2019 và số: 713/G ĐMT ngày 10/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật là chất tinh thể mầu trắng trong túi nilon kí hiệu (M1) gửi giám định là ma túy; loại Ketamine; khối lượng: 0,999gam; mẫu vật là 02 viên nén mầu H trong túi nilon kí hiệu (M1, M2) gửi giám định là ma túy; loại MDMA; tổng khối lượng:1,979gam và mẫu vật là thực vật khô thái nhỏ trong hai túi nilon gửi giám định là ma túy; loại Cần sa; tổng khối lượng: 2,255gam. (Bút lục số 79, 86)

Qúa trình điều tra, Phạm Văn Ch khai nhận phù hợp với lời khai của Bùi Mạnh C về việc Ch bán cho C 15 viên ma túy thuốc lắc với giá 4.500.000 đồng và cho C nợ 500.000 đồng. Số ma túy đó Ch lấy của Tiến ở phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả để bán cho C. Đến chiều ngày 05/9/2019, có nam thanh niên tên Hiếu, số điện thoại 0976583975 gọi điện cho Ch hỏi mua 04 viên ma túy thuốc lắc với giá 400.000 đồng/1viên và 01 gam ma túy ke với giá 2.500.000 đồng, Ch đồng ý. Sau đó, Ch đến nhà Tiến lấy 04 viên ma túy thuốc lắc, 01 gam Ke rồi hẹn Hiếu đến khu vực Hồ Cao Sơn để giao dịch bán ma túy. Ch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen BKS 14U1 - 385.28, cầm số ma túy trên đi đến nhà Kiên là bạn bè xã hội rủ đi xuống hồ Cao Sơn uống nước. Khi đi đến gần nơi hẹn thì Ch vứt ma túy xuống vỉa hè gần quán nước Hồ Cao Sơn, còn Kiên vào ngồi uống nước. Ch đứng trước cửa quán nước đợi người mua ma túy đến thì bị Công an bắt giữ, Ch đã tự dẫn Công an đến chỗ giấu ma túy giao nộp lại ma túy cho Công an. Ngoài ra, Ch khai nhận nhiều lần mang ma túy đi bán cho Tiến, mỗi lần bán được Tiến cho từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng và cho sử dụng ma túy.

Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với các bị cáo về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng ng êi, ®óng téi, kh«ng oan.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vũ Minh Đ có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Phạm Thanh Bình thể hiện: Vào tối ngày 04/9/2019, anh Bình có mượn tôi chiếc xe mô tô nhãn hiệu VESPA, BKS 14U1-175.32 để chở C đi đến quán Karaoke O2. Chiếc xe máy này, tôi mượn của mẹ là bà Phạm Thị Liên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thị Liên có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu VESPA, BKS 14U1-175.32 là của tôi, tối ngày 04/9/2019, con trai tôi là Vũ Minh Đ hỏi mượn xe để đi đến nhà bạn chơi. Tôi đồng ý thì Đ lấy xe đi đâu tôi không biết, khi Đ về nhà thông báo là Đ cho bạn tên là Bình nhà ở chung cư Cẩm Bình mượn đi thì bị Công an kiểm tra thu giữ trong vụ án có liên quan đến ma túy. Chiếc xe này, tôi mua của một người bạn xã hội mới quen biết (tôi không nhớ tên) từ khoảng giữa năm 2016 với giá 20.000.000 đồng, không viết giấy mua bán xe, người bán xe có đưa cho tôi giấy tờ xe nhưng sau đó tôi đã làm mất. Từ khi mua xe, tôi không kiểm tra số khung, số máy của chiếc xe và từ lâu tôi cũng không gặp lại và không liên lạc gì với người đã bán chiếc xe máy cho tôi.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Tối ngày 04/9/2019, Phạm Văn Ch có hỏi tôi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen BKS 14U1 - 385.28 của tôi để đi có việc, tôi đồng ý và đã giao chìa khóa xe cho Ch. Đến chiều ngày 05/9/2019, tôi được Công an thông báo về việc Ch đã bị bắt vì lien quan đến ma túy và bị thu giữ chiếc xe máy của tôi. Tôi không biết việc Ch mượn xe của tôi để sử dụng vào việc liên quan đến ma túy, chiếc xe này do tôi mua từ tháng 11/2018, đăng ký mang tên tôi. Tôi xin được nhận lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho gia đình.

Người làm chứng anh Phạm Thanh Bình có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Tối ngày 04/9/2019, Bùi Mạnh C có nhờ tôi chở đến quán Karaoke 02 để đánh nhạc. Tôi đồng ý và mượn xe mô tô nhãn hiệu VESPA, BKS 14U1-175.32 của anh Vũ Minh Đ chở C đi. Tôi không biết C mang theo ma túy để bán.

Người làm chứng anh Phạm Văn Kiên có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Vào ngày 05/9/2019, Phạm Văn Ch có rủ tôi ra hồ Cao Sơn uống nước, tôi đồng ý. Việc Ch mang theo ma túy đi bán thì tôi không biết.

Người làm chứng anh Lê Tú Anh có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của Bùi Mạnh C về việc gọi điện thoại cho C hỏi mua ma túy và đã được C bán cho 09 viên ma túy thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng như C đã khai ở trên. Ngoài ra anh Lê Tú Anh còn khai: 09 viên ma túy thuốc lắc mua của C, Lê Tú Anh sử dụng hết 03 viên còn 06 viên vất đi vì do sợ bị Công an bắt.

Bản cáo trạng số: 173/CT-VKSCP ngày 20/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 251; ®iểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Mạnh C.

Xử phạt: - Bùi Mạnh C từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù;

- Phạm Văn Ch từ 07 (bảy) năm 06 tháng đến 08 (tám) năm tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 và điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong số: 707/GĐMT, 710/GĐMT và 713/GĐMT; 01 phiếu cầm đồ của hiệu cầm đồ Xuân Thủy.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Zip mobile, vỏ màu xanh đen, model: ZIP 15, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu H, kèm 01 sim, đã cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Bùi Mạnh C số tiền 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng); trả lại bị cáo Phạm Văn Ch số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen bạc, model: 6300, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại phần tranh luận, các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đều không tranh luận vấn đề gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả và không tranh luận với nhau. Các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đều thấy ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo cải tạo tốt, thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng trong vụ án đều không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra họ đã có đầy đủ lời khai, quan điểm lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vấn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của họ trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch: Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vũ Minh Đ, bà Phạm Thị Liên và bà Nguyễn Thị H; lời khai của những người làm chứng anh Lê Tú Anh, anh Phạm Thanh Bình và anh Phạm Văn Kiên và còn phù hợp với các chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Mạnh C do Công an phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh lập hồi 22 giờ 50 phút ngày 04/9/2019 (bút lục 46, 47); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 23 giờ 35 phút ngày 04/9/2019 (bút lục 48); biên bản kiểm tra điện thoại của Bùi Mạnh C lập hồi 23 giờ 45 phút ngày 04/9/2019 (bút lục 49); biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn Ch vào hồi 15 giờ 25 phút ngày 05/9/2019 (bút lục 67, 68); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Phạm Văn Ch hồi 15 giờ 35 phút ngày 05/9/2019 (bút lục 69); biên bản kiểm tra điện thoại của Phạm Văn Ch vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 05/9/2019 (bút lục 70,71); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Phạm Văn Ch hồi 16 giờ ngày 05/9/2019 (bút lục 72); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Phạm Văn Ch hồi 22 giờ 35 phút ngày 05/9/2019 (bút lục 83); các bản kết luận giám định số: 707/GĐMT ngày 08/9/2019, số: 710/GĐMT ngày 08/9/2019 và số: 713/GĐMT ngày 10/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (bút lục 53, 79 và 86); biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/10/2019 (bút lục 184) cïng với c¸c tµi liÖu kh¸c c¬ quan ®iÒu tra thu thËp cã trong hå s¬ vô ¸n, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 04/9/2019, tại khu vực Hồ Cao Sơn thuộc phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Mạnh C mua của Phạm Văn Ch 15 viên ma túy loại MDMA, với giá 4.500.000 đồng (mới trả 4.000.000 đồng, còn nợ Ch 500.000 đồng). Sau khi mua được ma túy, C mang về bán cho Lê Tú Anh 09 viên với giá 3.000.000 đồng, còn 06 viên có khối lượng là 3,380 gam C mang theo người mục đích để bán tiếp, khi đi đến khu vực tổ 5, khu 6C, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Đối với Phạm Văn Ch: Ngoài hành vi bán ma túy cho C ngày 04/9/2019, chiều ngày 05/9/2019 còn có hành vi tàng trữ 0,999 gam Ketamin và 1,979 gam MDMA mục đích để bán cho người thanh niên tên là Hiếu có số điện thoại 0976.583.975. Khi bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Ch đã tự dẫn Công an đến chỗ giấu số ma túy nêu trên giao nộp lại cho Công an. Hành vi của Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đã phạm vào tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự với tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên;...”. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đối với các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đã vi phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Tệ nạn mua bán và sử dụng ma túy hiện nay vẫn đang có chiều hướng gia tăng với nhiều hình thức thủ đoạn rất tinh vi, nguy hiểm, trong khi Nhà nước ta đã và đang đề ra nhiều giải pháp, mở rất nhiều đợt tấn công truy quét và xử lý rất nghiêm khắc đối với các loại tội phạm về ma túy; hành vi mua bán ma tuý của các bị cáo đã tiếp tay cho các đối tượng buôn bán ma tuý lớn hoạt động và còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm hình sự nguy hiểm khác. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, thiếu ý thức rèn luyện bản thân, đều đã sử dụng ma túy nên các bị cáo đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật mua ma túy vừa để bán kiếm lời để có mua ma túy sử dụng hoặc được cho ma túy sử dụng như đã nêu trên. Việc các bị cáo bị phát hiện, xử lý là ngoài ý muốn của các bị cáo nên cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm trước pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Trong vụ án này, các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch thực hiện hành vi phạm tội độc lập, không có vai trò đồng phạm. Các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch thấy: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự; đều đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo Bùi Mạnh C là gia đình có công với cách mạng (bố bị cáo C là người có trách nhiệm thờ cúng Liệt sĩ Bùi Bá Lân) nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Mạnh C còn được áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính nhân đạo khoan H của pháp luật. Nhưng dù có xem xét đến đâu thì việc bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục các bị cáo và góp phần phòng chống tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch đều là người sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình bắt quả tang Bùi Mạnh C, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở của Phạm Văn Ch, đã thu giữ số vật chứng như nêu trên. Đối với số ma tuý gửi giám định còn hoàn lại trong 03 phong bì niêm phong số: 707/GĐMT, 710/GĐMT và 713/GĐMT, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 phiếu cầm đồ của hiệu cầm đồ Xuân Thủy, bị cáo Bùi Mạnh C không có yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Zip mobile, vỏ màu xanh đen, model: ZIP 15, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu H, kèm 01 sim, đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định bị cáo Bùi Mạnh C và bị cáo Phạm Văn Ch đã sử dụng làm phương tiện liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên nộp vào ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 70.000 đồng và 1.600.000 đồng, thu giữ của bị cáo Bùi Mạnh C và bị cáo Phạm Văn Ch. Quá trình điều tra xác định là tiền của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội và không truy thu được số tiền các bị cáo có được khi thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên trả lại số tiền này cho các bị cáo; đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen bạc, model 6300, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Phạm Văn Ch, không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo Phạm Văn Ch; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen BKS 14U1 - 385.28, xác định được chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ của Phạm Văn Ch). Bà H không biết việc Ch mượn xe đi bán ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà H; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VESPA, BKS: 14U1-175.32, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra, xác định số khung số máy đã bị đục, không xác định được biển kiểm soát và không có quốc huy. Chiếc xe mô tô này, bà Phạm Thị Liên (mẹ đẻ của anh Vũ Minh Đ), mua của một người không quen biết với giá 20.000.000 đồng. Cơ quan điều tra ra quyết định tách chiếc xe mô tô trên để điều tra, xử lý sau.

Đối với:

- Nguyễn Minh Tiến là người theo Phạm Văn Ch khai đã đưa ma túy cho Phạm Văn Ch mang đi bán, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập nhiều lần, nhưng Nguyễn Minh Tiến vắng mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xử lý sau.

- Người tên Hiếu gọi điện hỏi mua ma túy của Phạm Văn Ch. Do không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

- Phạm Văn Ch có hành vi tàng trữ trái phép 2,255 gam ma túy Cần sa mục đích để sử dụng, lượng ma túy Cần sa chưa đến mức xử lý hình sự. Công an thành phố Cẩm Phả ra quyết định xử phạt hành chính đối với Phạm Văn Ch.

- Bùi Mạnh C có hành vi bán cho Lê Tú Anh 09 viên ma túy loại MDMA. Số ma túy này không thu giữ được nên không có cơ sở để xác định khối lượng, chỉ xác định được khối lượng của 06 viên ma túy loại MDMA đã thu giữ của Bùi Mạnh C trong quá trình khám xét bắt quả tang. Vì vậy, không có cơ sở để kết luận tổng khối lượng ma túy mà Bùi Mạnh C đã mua của Phạm Văn Ch. Chỉ có cơ sở kết luận về hành vi Bùi Mạnh C bán ma túy cho Lê Tú Anh và khối lượng 06 ma túy loại MDMA, Bùi Mạnh C tàng trữ mục đích để bán như nêu trên.

- Lê Tú Anh có hành vi mua 09 viên ma túy loại MDMA của Bùi Mạnh C đã sử dụng hết, không thu giữ được vật chứng và không xác định được khối lượng cụ thể. Nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Lê Tú Anh về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Công an thành phố Cẩm Phả ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Tú Anh.

Về án phí: Các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch, đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đều có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Mạnh C, Phạm Văn Ch phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Mạnh C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/9/2019.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ch 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/9/2019.

Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 và điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong số: 707/GĐMT, 710/GĐMT và 713/GĐMT; 01 phiếu cầm đồ của hiệu cầm đồ Xuân Thủy.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Zip mobile, vỏ màu xanh đen, model: ZIP 15, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu H, kèm 01 sim, đã cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Bùi Mạnh C số tiền 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng); trả lại bị cáo Phạm Văn Ch số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen bạc, model: 6300, kèm 01 sim, 01 pin, đã cũ, đã qua sử dụng.

(Tiền và vật chứng tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 39/BB-THA ngày 09/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Bùi Mạnh C và Phạm Văn Ch, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm cã mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ