- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Cầm Văn C và Lò Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số:181/2018/HSST Ngày 21-11- 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên, ông Vì Văn Đôi.
Thƣ ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:183/2018/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số:181/2018/HSST-QĐ ngày 09 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo sau:
1. Họ và tên: Lò Văn Th (tên gọi khác: Không), sinh năm 1981. Nơi sinh Mai Sơn, Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản NNg, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lò Văn T; con bà Quàng Thị Ch (đã chết), có vợ là Lò Thị L và 02 ngƣời con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm, giữ từ ngày 16/6/2018 đến ngày 19/6/2018 và bắt tạm giam từ ngày 05/9/2018 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Cầm Văn C (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984. Nơi sinh Sông Mã- Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản NNg, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: không. Con ông: Cầm Văn Ch1; con bà Lò Thị Ch2, có vợ là Lò Thị Nh và 02 ngƣời con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007). Tiền án, tiền sự: Không.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân Ngày 20/9/2011 đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La với thời hạn 24 tháng.
Bị bắt tạm giam từ ngày 16/6/2018 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 16 tháng 6 năm 2018 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã NN làm nhiệm vụ tại bản TG, xã NN, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Cầm Văn C và Lò Văn Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong túi quần bên phải của C 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng, thu tại lòng bàn tay của C 01 gói giấy bạc đã bị đốt xém bên trong chứa mảnh viên nén màu hồng theo C khai nhận là Heroine và hồng phiến. Ngoài ra, còn tạm giữ của C 01 bật lửa ga hiệu TANAKA; 01 điện thoại di động hiệu sam sung; 01 xe mô tô BKS 26C1-174.57; tạm giữ của Lò Văn Th số tiền 2.890.000đ; 01 điện thoại di động hiệu FPT; 01 xe mô tô BKS 26K7-1463.
Ngày 20/6/2018, tại Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La đã ti ến hành̉
̀
mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu vật chứng gửi giám định. Kết quả: Cân tịnh số bột liên kết màu trắng nghi Heroine có khối lƣợng 0,25 gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu C1; Cân tịnh mảnh viên nén màu hồng nghi là hồng phiến có khối lƣợng 0,006 gam, đã sử dụng hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu C2.
Kết luận giám định số 799 ngày 22/6/2018 của Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sƣ̣ Công an
̀ tỉnh Sơn La kết luận:
“+ Mẫu gửi giám định ký hiệu C1 là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam.
+ Mẫu gửi giám định ký hiệu C2 là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,006 gam.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Cầm Văn C sử dụng ma túy từ năm 2011 và Lò Văn Th sử dụng ma túy từ đầu năm 2018. Khoảng 6 giờ ngày 16/6/2018 Th rủ C đi ăn sáng và uống rƣợu (quán Kiên Lốc tổ dân phố 6 thị trấn Sông Mã) xong, trong lúc ngồi uống nƣớc Th nói với C đi tìm mua ma túy về sử dụng giải rƣợu C đồng ý thống nhất góp mỗi ngƣời 50.000đ, Th bảo C mua về trƣớc sẽ trả tiền sau. Th rủ C lên uống bia tại quán Hải Út (tổ 6 thị trấn Sông Mã) Trƣớc khi lên C gọi điện và hẹn và mua đƣợc của ngƣời tên Lò Văn T 01 mảnh viên hồng và 01 gói Heroine với gái 100.000đ sau đó quan lại quán bia tìm Th và cùng nhau sang nhà hoang đầu cầu treo thuộc bản TG, xã NN sử dụng, khi cả hai đang sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 146/CT-VKSSM ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố các bị cáo Lò Văn Th và Cầm Văn C về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th và Cầm Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 14 đến 20 tháng tù, Cầm Văn C từ 18 đến 20 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thƣ niêm phong bên trong chứa 02 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì niêm phong ban đầu đã bị bóc mở và 01 bật lửa ga;
Trả lại: - Bị cáo Lò Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT và 01 xe máy BKS 26K7- 1463 và số tiền 2.890.000 đồng.
- Bị cáo Cầm Văn C 01 xe mô tô nhãn hiệu honda BKS 26C1-174.57 đã cũ.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu của bị cáo Cầm Văn C.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không thay đổi không bổ sung gì thêm. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội nhƣ bản cáo trang của Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn tự nguyện phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 15 ngày 16/6/2018, vật chứng thu giữ gồm 01 gói heroine và 01 gói methamphetamine, lời khai ngƣời làm chứng, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định số 799 ngày 22/6/2018 của phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La gói vật chứng thu giữ là loại Heroine và methamphetamine và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 16 tháng 6 năm 2018 Cầm Văn C và Lò Văn Th có hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy có khối lƣợng 0,006 gam Methamphetamine và 0,25 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phƣơng, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Các bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh.
Xét về tính chất mức độ tham gia của các bị cáo trong đồng phạm:
Đối với Lò Văn Th là ngƣời khởi sƣớng rủ rê cùng góp tiền (sẽ đƣa sau) còn bị cáo Cầm Văn C là ngƣời bỏ tiền (ra trƣớc), giao dịch việc mua bán do vậy các bị cáo là đồng phạm, đối với bị cáo C giữ vai trò chính còn bị cáo Th giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.
Xét về nhân thân: Các bị cáo đều chƣa có tiền án, tiền sự các bị cáo nhận biết đƣợc việc mua ma túy về tàng trữ để sử dụng là vi phạm pháp luật nhƣng các bị cáo bất chất pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với bị cáo Cầm Văn C có nhân thân xấu là đối tƣợng nghiện ma tuý, đã từng đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La về địa phƣơng nhƣng không tu trí làm ăn mà thƣờng xuyên chơi bời với các đối tƣợng có nhân thân xấu. Đối với bị cáo Lò Văn Th tuy chƣa nghiện chất ma túy nhƣng thƣờng hay sử dụng ma túy để giải rƣợu mỗi khi uống rƣợu. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên đƣợc hƣởng chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo biên bản xác minh và lời khai của bị cáo Cầm Văn C tại phiên tòa, xác định các bị cáo là đối tƣợng nghiện chất ma túy đối với bị cáo Lò Văn Th không có tài sản riêng và gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thƣ niêm phong bên trong chứa 01 mảnh nilon 01 mảnh giấy bạc và 01 phong bì niêm phong ban đầu;
Đối với 01 điện thoại di động và số tiền 2.890.000 đồng thu của bị cáo Lò Văn Th và 02 xe mô tô xét không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo. Đối với 01 điện thoại thu của Cầm Văn C bị cáo sử dụng để liên lạc việc mua bán ma túy xét liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.
Các vẫn đề khác: Đối với ngƣời tên Lò Văn T bán ma túy cho bị cáo C (theo bị cáo C khai) qua xác minh đối chất ngƣời tên Lò Văn Thắng ở bản NNg 2, xã NN, huyện Sông Mã bị cáo C khẳng định không phải ngƣời này bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Lò Văn Th và Cầm Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố các bị cáo Cầm Văn C và Lò Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt: Bị cáo Cầm Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2018).
Bị cáo Lò Văn Th 14 (mười bốn) tháng tù, đƣợc khấu trừ đi ngày tạm giữ từ 16/6/2018 đến 19/6/2018. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/9/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do bƣu điện Việt Nam phát hành. Mặt trƣớc ghi “vật chứng vụ Cầm Văn C, SN 1984, ở bản NNg, NN, Sông Mã, Sơn La. Hành vi cùng đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 giấy bạc+ 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau phong bì có ghi dòng chữ “Cơ quan CSĐT – Công an huyện Sông Mã ngày 20/6/2018 và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong cùng 01 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La và 01 bật lửa ga hiệu TANAKA, màu đỏ;
- Trả cho bị cáo Lò Văn Th 01 điện thoại di động hiệu FPT, màu đỏ đen có số imel1: 980020009613714, số imei2: 980020009634710. Điện thoại đã qua sử dụng, 01 xe mô tô hiệu SYM, BKS 26K7- 1463, số khung: B035479, số máy: 70035470. Xe đã qua sử dụng và số tiền 2.890.000đ (hai triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
- Trả cho bị cáo Cầm Văn C 01 xe mô tô hiệu Honda RSX Fi, màu đen, BKS 26C1 – 174.57, số khung: 128678, số máy: 0273747. Xe đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Sum sung, màu trắng có số imel: 35457/05/526495/2. Điện thoại đã qua sử dụng thu của Cầm Văn C .
(Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 17 tháng 10 năm 2018).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14.
Các bị cáo Lò Văn Th và Cầm Văn C mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS; - STP tỉnh; - Bị cáo; - Chánh án; - Lƣu hồ sơ; -Lƣu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đèo Văn Quỳnh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh |