vanban.org

Bản án 181/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 06/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo: Phạm Hải N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Phạm Hải N cho Ủy ban nhân dân xã NH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội quản lý, giám sát trong thời gian thử thách. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Hải N hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hải Nam phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự - phạm tội vi p…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo: Phạm Hải N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2017/HS-ST.
Ngày: 06-12-2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lân. Các Hội thẩm nhân dân:

1, Bà Lê Thị Thu Lý.

2, Bà Hoàng Thị Hòa.

Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng, Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐA. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 06 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 205/2017/HS-ST ngày 17/11/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM HẢI N, sinh năm 1988, ĐKHKTT: Thôn Đ, xã NH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Trọng L (sn1961); Con bà Ngô Thị M (sn1963); Có vợ là Đỗ Thị V (sn 1992); Có 02 con 06 tuổi và 01 tuổi; Theo Danh bản, chỉ bản số 443 lập ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Công an huyện ĐA, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người bị hại: Bà Vi Thị N, sinh năm 1942; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 2, Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội (đã chết ngày 07/8/2017).

- Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bà Vi Thị N: Chị Hoàng Thị Thu A, sinh năm 1972; Chị Hoàng Thị Thu D, sinh năm 1975 và anh Hoàng Ngọc S, sinh năm 1977 (Là các con của bà N); đều ở địa chỉ: Số nhà 2, Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội. Do anh Hoàng Ngọc S đại diện theo ủy quyền của chị A và chị Th (Giấy ủy quyền ngày 15/8/2017). Vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần VT và XD; trụ sở: Số 34, LK 26, khu đô thị VPh, phường PhL, quận HĐ, Thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị đơn dân sự: Ông Hoàng Tiến C - Giám đốc Công ty. Vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Giám đốc Công ty: Ông Quách Hoàng Tr – Phó Giám đốc Công ty (Giấy ủy quyền ngày 28/8/2017). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8h45’ ngày 07/8/2017, Phạm Hải N (có Giấy phép lái xe ôtô hạng B2) đỗ xe ôtô tải có mui, hiệu Thaco, màu xanh, biển kiểm soát: 29C-744.69 trên đường gom Quốc lộ 3, thuộc địa phận Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội (đỗ ngược chiều đường), đầu xe quay hướng ngã tư ĐA. Đến 08h50’ cùng ngày, Phạm Hải N lên xe, nổ máy và thực hiện lùi xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69, dẫn đến va chạm với bà Vi Thị N (Sinh năm 1942; trú tại: Số nhà 2, Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) đang quét rác tại lòng đường. Hậu quả: Bà Vi Thị N tử vong tại chỗ.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Mặt đường rải nhựa nhẵn phẳng, rộng 9,5m, vỉa hè rộng 4,3m; đường vào Khu tập thể Tổ 6, thị trấn ĐA rộng 11,6m.

Lấy mép vạch sơn liền bên phải, chiều cầu Đuống đi cầu PhL làm chuẩn: Xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69 đỗ trên đường nhựa, đầu xe hướng cầu Đ. Trục bánh trước bên trái cách mép vạch sơn liền 0,2m. Trục bánh sau bên trái cách mép vạch sơn liền 0,1m. Xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69 lùi, để lại vết hằn hình vân lốp bánh xe KT (2x0,12)m, đầu vết cách mép vạch sơn liền 0,32m, cuối vết trùng với mặt lăn lốp bánh trước bên trái. Tại vị trí phía sau bánh trước bên trái có vùng rác KT (1,25x0,9)m và có chiếc chổi liên quan.

Nạn nhân Vi Thị N nằm úp dưới gầm xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69, đầu hướng cầu PhL, trùng với mép vạch liền và trùng với mặt lăn bánh sau bên trái.

Tiến hành khám dấu vết phương tiện xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69, xác định:

Mặt ngoài thành thùng sau có vết trượt sạch bụi đất. Mặt ngoài gioăng cao su cánh cửa bên trái thùng xe có vết trượt sạch bụi đất. Mặt dưới lốp thứ 2 treo dưới gầm xe ô tô có vết trượt sạch bụi đất. Mặt lăn hàng lốp thứ 2 bên trái có bám dính màu đỏ và tổ chức cơ thể người.

Ngày 08/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, giám định dấu vết trên xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69. Bản kết luận giám định số 4093/C54(P3) ngày 31/8/2017 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Dấu vết trượt mất bụi đất in hình dạng vân vải ở mặt ngoài phía dưới bên trái khung kim loại bậc để chân lên xuống phía sau thùng xe và ở mặt dưới bên trái trục bánh sau xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69 có chiều từ sau về trước, hình thành do va chạm với vải (quần hoặc áo).

Kỹ thuật an toàn xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69: Hệ thống phanh tác dụng.

Cơ quan điều tra tiến hành pháp y tử thi Vi Thị N, tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 4054/C54-TT1, ngày 20/9/2017, Viện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định:

Khám ngoài:

- Trang phục và các vật dụng mang theo: Mặc áo phông cộc tay màu đen hoa màu trắng hồng. Toàn bộ mặt trước và sau thân áo bám dính máu và chất bẩn màu nâu. Mặt sau vai áo phải có diện rách sơ vải KT (7x3)cm. Mặc quần dài cạp chun màu đen, hoa màu trắng hồng. Toàn bộ thân quần bám dính rải rác chấn bẩn màu nâu.

- Các dấu vết tổn thương: Vùng đầu mặt biến dạng, ép dẹt theo chiều trái sang phải. Vùng trán phải, sát đường giữa, sát đuôi cung mày phải có vết rách lóc da KT (7x3,5)cm, bờ mép nham nhở, đáy có cầu tổ chức, lộ xương hộp sọ, vỡ lún phức tạp hướng từ trước ra sau, chếch trái sang phải. Vùng đỉnh chẩm, cách đường chân tóc gáy 10cm, cách đỉnh vành tai trái 13cm có vết dập rách da KT (13,5x10)cm, bờ mép bầm dập nham nhở, tụ máu, lộ xương hộp sọ, vỡ lún phức tạp và có mảnh rời KT (9x5)cm. Vùng má trái có các vết sây sát mài trượt KT (9x8)cm. Vùng má phải có diện tụ máu không liên tục KT (10x5)cm. Vùng mũi, má trái, cách cánh mũi trái 1,5cm có vết dập rách da KT (3,5x1)cm, bờ mép nham nhở, đáy có cầu tổ chức hướng từ trước ra sau. Vùng trán thái dương trái cách đường giữa 5cm, cách đường chân tóc trán 4cm có diện dập rách da tụ máu không liên tục KT (4x5)cm, hướng từ trái sang phải. Vỡ phức tạp xương gò má, hàm trên và hàm dưới hai bên. Vùng bả vai phải cách đường giữa 4cm, cách bờ vai 4,5cm có diện tụ máu, hằn da không liên tục KT (16x13)cm, trong đó có các vết tụ máu nằm chếch chéo, song song với nhau, cách đều nhau 4cm, KT lần lượt từ phải sang trái là (4x1)cm; (11x1)cm và (5,5x1)cm. Kiểm tra vỡ phức tạp xương bả vai phải. Vùng cổ trước và cổ bên phải có diện sây sát da tụ máu KT (13x5)cm. Vùng cổ bên trái có diện sây sát da tụ máu KT (6x5,5)cm. Gãy cung trước các xương sườn 1,2,3,4,5 bên phải. Mặt trước trong cánh tay, khuỷu và 1/3 trên cẳng tay phải có diện sây sát da tụ máu KT (27x7)cm. Mặt trước cổ tay phải có vết sây sát da tụ máu KT (1x0,7)cm. Mu tay phải vị trí gian đốt bàn 1-2 có vết rách da tụ máu KT (4,5x0,8)cm, bờ mép nham nhở. Mặt mu đốt 3, ngón 3 tay trái có vết sây sát da tụ máu KT (1x0,5)cm. Mặt trước cổ chân phải có các vết sây sát da tụ máu KT (5x3)cm.

Khám trong: Vỡ lún phức tạp, có mảnh rời xương hộp sọ vùng trán, thái dương, đỉnh chẩm. Bán cầu đại não hai bên dập nát, chảy máu, thoát một phần ra ngoài qua vết thương vùng đỉnh - chẩm. Lều tiểu não hai bên không bị rách. Kết luận nguyên nhân chết của bà Vi Thị N: Vết thương sọ não, thoát tổ chức não ra ngoài hộp sọ, dập não chảy máu, vỡ lún phức tạp xương hộp sọ, trên người bị đa chấn thương.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hải N khai nhận: Khoảng 07h30’ ngày 07/8/2017, Nam điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 29C-744.69 chở gạch lát nền, trên xe có anh Nguyễn Song A (sinh năm 1970; Trú tại: Thôn PhH, xã DT, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội); anh Đào Văn Q (sinh năm 1991; Trú tại: Thôn LN, xã TD, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) đi từ Công ty cổ phần V và XD đến cửa hàng H-O ở đường gom Quốc lộ 3, thuộc Tổ 6, thị trấn ĐA để giao hàng và giao cho một số hộ dân. Sau khi giao hàng cho một số hộ dân xong, N điều khiển xe ô tô quay lại cửa hàng H-O để trả hóa đơn và xe đẩy hàng. Lúc đó khoảng 08h50’ cùng ngày, Nam đỗ xe ô tô ngược đường gom Quốc lộ 3. N cùng anh Nguyễn Song A, anh Đào Văn Q xuống xe ô tô trả hóa đơn và xe đẩy hàng, sau đó N, anh A và anh Q lên xe ô tô, N nổ máy và thực hiện lùi xe ô tô. Trước khi lùi xe ô tô, N chỉ nhìn qua hai gương chiếu hậu không thấy có ai đang đứng ở phía hai bên thành xe, phía sau xe không quan sát được và không bấm còi để cảnh báo. Sau khi lùi xe được khoảng 1,5m thì Ncó cảm giác bánh sau bên trái bị kênh lên. N phanh, tắt máy xuống xe thấy bà Vi Thị N nằm ở dưới bánh sau bên trái, đầu bị biến dạng. N giữ nguyên hiện trường và đến cơ quan Công an trình diện.

Căn cứ vào sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám các dấu vết phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng và lời khai của Phạm Hải N thì nguyên nhân xảy ra tai nạn là do N điều khiển xe ô tô lùi xe không chú ý quan sát, không có tín hiệu cần thiết vi phạm khoản 1 Điều 16 Luật Giao thông đường bộ.

Đối với xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69 đăng ký mang tên Công ty cổ phần VT và XD (Đ/c: Số nhà 34, LK26, Khu đô thị VPh, phường PhL, quận HĐ, Thành phố Hà Nội). Công ty cổ phần VT và XD thuê Phạm Hải N lái xe theo hợp đồng. Xe ôtô có tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; phần bảo hiểm xe, các bên liên quan không yêu cầu cơ quan pháp luật can thiệp. Ngày 31/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã trao trả xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69 cho chủ sở hữu.

Phần dân sự: Công ty cổ phần VT và XD và bị cáo Phạm Hải N bồi thường gia đình nạn nhân Vi Thị N số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình nạn nhân N đã nhận đủ tiền, không có đề nghị gì thêm về phần dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Hải N.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị cáo xác định: Khoảng 8h45’ ngày 07/8/2017, tại khu vực đường gom Quốc lộ 3 thuộc Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, bị cáo điều khiển xe ôtô tải hiệu Thaco, biển kiểm soát: 29C-744.69 thực hiện lùi xe để chuyển hướng quay đầu xe về phía PhL tiếp tục đi giao hàng, do không bấm còi cảnh báo và không chú ý quan sát phía sau xe dẫn đến va chạm với bà Vi Thị N, làm bà Vi Thị N tử vong tại chỗ. Sau tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng gia đình và Công ty cổ phần VT và XD đến thăm hỏi, phúng viếng và bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 150 triệu đồng, trong đó bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường số tiền 100 triệu đồng; Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật và rất ân hận, xin được rút kinh nghiệm và sửa chữa sai lầm.

Bản cáo trạng số 192/CT-VKS ngày 15/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Hải N về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 8h45’ ngày 07/8/2017, tại khu vực đường gom Quốc lộ 3 thuộc Tổ 6, thị trấn ĐA, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, bị cáo Phạm Hải N có giấy phép lái xe ô tô điều khiển xe ôtô biển kiểm soát: 29C-744.69, thực hiện lùi xe nhưng không bấm còi xe cảnh báo, không chú ý quan sát phía sau xe dẫn đến va chạm với bà Vi Thị N, làm bà Vi Thị N tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Hải N từ 10 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ˮ.

- Về phần dân sự: Không phải giải quyết.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐA, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm

phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác. Bị cáo nhâ ̣n thứ c được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do

ý thức coi thườ ng pháp luâ ̣t nên cố tinh

̀ phạm tội. Hành vi bị cáo điều khiển xe ô tô, biển kiểm soát 29C-744.69, thực hiện lùi xe nhưng không bấm còi cảnh báo và không quan sát phía sau xe, dẫn đến va chạm với bà Vi Thị N làm bà N bị tử vong đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; ngay sau khi phạm tội bị cáo đã tự đến cơ quan Công an đầu thú; cùng với gia đình và chủ phương tiện khắc phục hậu quả bồi thường số tiền 150 triệu đồng theo yêu cầu của gia đình người bị hại; phía gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có bố đẻ có thời gian phục vụ trong Quân đội từ năm 1979 đến năm 1982 tại biên giới phía bắc, ông nội Phạm Trọng K được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba; bị cáo có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay là lao động chính trong gia đình, là cơ sở để cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương theo quy định tại Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự, để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, rèn luyện bản thân cũng có thể trở thành người tốt được, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề từ một năm đến năm năm…”. Xét tính chất, mức độ phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, không áp dụng biện pháp cấm hành nghề đối với bị cáo.

. Về phần dân sự:

. Đại diện gia đình người bị hại Vi Thị N anh Hoàng Ngọc S trình bày: Vụ việc tai nạn giao thông do bị cáo Phạm Hải N gây ra, hậu quả bà Vi Thị N bị chết. Sau tai nạn, bị cáo đã cùng với gia đình và đại diện Công ty cổ phần VT và XD đã đến thăm hỏi, phúng viếng, bồi thường cho gia đình anh số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị cơ quan pháp luật xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Công ty cổ phần Vật tư và Xây dựng 36 ông Quách Hoàng Tr trình bầy: Việc bị cáo Phạm Hải N điều khiển xe ô tô biển kểm soát 29C-744.69 gây tai nạn làm bà vi Thị N bị chết ngày 07/8/2017 là do lỗi của bị cáo. Sau tai nạn xẩy ra, Công ty đã cùng gia đình bị cáo khắc phục toàn bộ hậu quả cho gia đình người bị hại. Về trách nhiệm bảo hiểm dân sự Công ty tự thỏa thuận giải quyết với cơ quan bảo hiểm, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Như vậy về phần dân sự trong vụ án này Tòa án không phải giải quyết.

. Về vật chứng: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Hải N đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án, nay Tòa án trả lại cho bị cáo sử dụng.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo: Phạm Hải N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: PHẠM HẢI N 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Hải N cho Ủy ban nhân dân xã NH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Hải N hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án của Tòa án.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Công ty cổ phần VT và XD 36 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ về phần dân sự có liên quan.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ