vanban.org

Bản án 181/2017/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/09/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Các đương sự thỏa thuận với nhau cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trương Công T - Lê Văn L"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2017/DS-PT
Ngày: 21 – 9 – 2010
V/v Tranh ch p h p đ ng
chuyển như ng quyền sử dụng
đ t.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Son.

Các Thẩm phán: Ông Lâm Văn Be

Ông Nguyễn Văn Tòng

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 21/9/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2017/TLPT –DS ngày 07 tháng 8 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2017/QĐPT-DS ngày 23/8/2017 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Trương Công T, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số 300 đư ng 786 p Th, xã TĐ, huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1956.

Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1955.

C ng địa chỉ: Số 139 đư ng NT khu phố , phư ng , thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ph: Ông Lê Văn L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số 139 đư ng NT khu phố , phư ng , thành phố TN, tỉnh Tây Ninh là ngư i đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/3/2017); có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Lương Công Đ, sinh năm 1960.

3.2 Bà Huỳnh Quế Â, sinh năm 1966.

C ng địa chỉ: Số D16/3 p H, xã HT, huyện HT, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 6 p PHi, xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh là ngư i đãi diện theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 15/12/2016). Có mặt.

4. Ngư i kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph, ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L, bà Huỳnh Quế Â.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2012 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Trương Công T trình bày:

Ngày 20/4/2009, anh T có nhận chuyển như ng quyền sử dụng đ t của ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph phần đ t có kích thước chiều ngang 9m, chiều dài 28,76m thuộc thửa đ t số 25 t bản đ số 7 tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh. Hai bên thỏa thuận giá chuyển như ng là 750.000.000 đ ng, anh T giao trước 400.000.000 đ ng, còn 350.000.000 đ ng đến ngày 20/4/2012 giao đủ tiền và hai bên làm thủ tục sang như ng, việc sang như ng chỉ viết gi y tay và có chữ ký của hai bên. Trước ngày 20/4/2012, gia đình anh T có đến báo cho ông L biết sắp đến ngày giao tiền để làm thủ tục sang như ng thì ông L nói phần đ t bán cho anh T không có mặt tiền nên nếu anh T mua thì mua luôn phần đ t phía trước (thửa 46) giá 750.000.000 đ ng.

Anh T không đ ng ý vì khi chuyển như ng ông L viết gi y tay với diện tích chuyển như ng bằng diện tích anh T đang sử dụng xây gara và không có mặt tiền thì làm sao làm gara sửa xe ô tô, khi sang như ng đ t cho anh T thì gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông L đã thế ch p vay ngân hàng nên không biết phần đ t có hai thửa, anh T chỉ biết đủ diện tích mua bán theo gi y tay. Trước khi sang như ng đ t thì năm 2007 ông T có thuê đ t của ông L, bà Ph để làm cơ sở sửa chữa xe ô tô, anh T có đổ đ t nâng nền và xây dựng nhà ở giữa đ t để sửa ô tô, đến năm 2009 nhận chuyển như ng đ t từ ông L, bà Ph xong thì anh T làm thêm kiên cố hơn như nâng nền bê tông, xây tư ng xung quanh và làm dài thêm phía trước đổ nền xi măng, khoan giếng, vào chân điện và góp ½ số tiền xây nhà vệ sinh c ng với ông L trên phần đ t của anh T sang như ng để sử dụng chung. Anh T khởi kiện yêu cầu ông L, bà Ph phải tiếp tục thực hiện h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t phần anh đã xây dựng nhà kiên cố, phần còn lại thì giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 30-11-2016 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph trình bày:

Ông L, bà Ph xác nhận ngày 20/4/2009 có sang như ng cho anh Trương Công T một phần đ t như anh T trình bày, hai bên chỉ làm gi y tay, anh T đã giao cho ông L số tiền 400.000.000 đ ng, còn 350.000.000 đ ng hẹn 03 năm sau sẽ giao đủ. Phần đ t ông L, bà Ph sang như ng cho anh T có hai thửa là thửa 46 và thửa 25, t bản đ số 7 do ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph đứng tên chủ sử dụng đ t. Sau khi chuyển như ng đ t cho anh T một th i gian thì ông L, bà Ph định chuyển như ng luôn phần đ t giáp ranh đ t trước đã sang như ng cho anh T với giá 750.000.000 đ ng nhưng anh T yêu cầu đư c giảm với giá là 350.000.000 đ ng nên ông L, bà Ph không đ ng ý. Trước ngày đến hạn giao số tiền 350.000.000 đ ng thì gia đình anh T có qua nhà thương lư ng giá cả chứ không đề cập đến không giao tiền như đã hẹn mà anh T làm đơn khiếu nại tại Ủy ban nhân dân phư ng IV, thành phố TN yêu cầu ông L, bà Ph b i thư ng h p đ ng. Ông L, bà Ph xác định khi sang như ng không đo đạc chính xác, lúc sang như ng thì anh T đã xây c t gara sửa chữa ô tô như hiện trạng hiện nay. Do việc chuyển như ng quyền sử dụng đ t giữa ông L, bà Ph và anh T không có h p đ ng h p pháp và anh T không giao đủ tiền nên ông L, bà Ph không đ ng ý chuyển như ng phần đ t trên cho anh T nữa. Ông L, bà Ph đ ng ý trả cho anh T tiền đã nhận 400.000.000 đ ng và tính lãi su t theo quy định từ ngày đưa tiền đến nay.

Sau khi Bản án số: 101/2013/DS - PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có hiệu lực, ông cần tiền trả anh T theo bản án trên nên đã bán bằng gi y tay cho bà Huỳnh Quế Â, ông Lương Công Đ số tiền 1.650.000.000 đ ng, đã nhận số tiền 1.265.000.000 đ ng của bà Â, ông Đ nên đ ng ý sang như ng phần đ t trên cho bà Â, ông Đ. Trư ng h p h p đ ng giữa ông L, bà Ph với ông Đ, bà Â vô hiệu thì v ch ng ông L không yêu cầu tòa xem xét về hậu quả của h p đ ng vô hiệu.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â cùng người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Hoàng L trình bày:

Theo Bản án số: 101/2013/DS-PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thì H p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t giữa anh Trương Công T và bà Nguyễn Thị Ph, ông Lê Văn L là vô hiệu. Do đó, ông L cần tiền để thi hành bản án cho anh T, nên ông L, bà Ph có thỏa thuận và thống nh t bán lại cho v ch ng bà Â, ông Đ phần đ t và tài sản trên đ t với giá là 1.650.000.000.000 đ ng và hai bên đã ký h p đ ng đặt cọc chuyển như ng quyền sử dụng đ t và tài sản gắn liền trên đ t diện tích 245,5 m2 thuộc thửa 25;46 t bản đ 07 tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh vào ngày 01/7/2013 sau ngày Bản án số: 101/2013/DS-PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có hiệu lực, nhưng do sơ su t trong khi đánh máy để ngày 01/01/2013. Ông Đ, bà Â đã giao trước số tiền 1.265.000.000 đ ng, số còn lại 385.000.000 đ ng sẽ thanh toán hết sau khi hoàn t t thủ tục chuyển như ng sang tên cho ông Đ, bà Â. Tháng 9/2013 chuẩn bị hoàn t t thủ tục sang tên thì không đư c ch p nhận vì anh T khiếu nại đến Tòa án nhân dân tối cao theo thủ tục Giám đốc thẩm Bản án số: 101/2013/DS-PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Nay bản án bị hủy theo thủ tục Giám đốc thẩm, nhưng v ch ng ông Đ, bà Â đã đặt cọc chuyển như ng phần đ t trên, nên yêu cầu ông L, bà Ph phải tiếp tục thực hiện việc chuyển như ng quyền sử dụng đ t và tài sản trên đ t như hai bên đã thỏa thuận. Trư ng h p h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t giữa ông Đ, bà Â với ông L, bà Ph bị vô hiệu thì v ch ng ông Đ không yêu cầu tòa án xem xét, giải quyết về hậu quả của h p đ ng vô hiệu.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 72/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN đã xử:

Căn cứ Điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Ch p nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh ch p h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t” của anh Trương Công T đối với ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị Ph. Công nhận phần h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t diện tích 169,2 m2. Hủy phần h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t diện tích 76,3 m2

Buộc ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph có nghĩa vụ thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đ t cho anh Trương Công T diện tích 169,2 m2 thuộc thửa số 46 và một phần thửa số 25, t bản đ số 7, đ t tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Có tứ cận:

Hướng Đông giáp thửa 48 dài 18,8m;

Hướng Tây giáp thửa 25 dài 18,8m;

Hướng Nam giáp thửa 24 dài 9m;

Hướng Bắc giáp đư ng Nguyễn Trãi dài 9m.

Giao anh Trương Công T đư c tiếp tục sử dụng tài sản có trên phần đ t nêu trên g m: Nhà c p 4C kết c u móng gạch, cột gạch, cột sắt, cửa sắt, mái tôn, nền xi măng diện tích 9m x 18,80m = 169,2m2 giá trị 165.900.000 đ ng.

Buộc anh Trương Công T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph số tiền 701.322.500 đ ng (Bảy trăm lẻ một triệu, ba trăm hai mươi hai nghìn, năm trăm đ ng).

Giao ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph đư c tiếp tục quản lý, sử dụng phần đ t diện tích 76,3m2 thuộc thửa số 25, t bản đ số 7 (Liền kề phía sau đ t giao anh T), tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa 48 dài 4,08m;

Hướng Tây giáp thửa 25 dài 4,95;

Hướng Nam giáp thửa 24 dài 9m;

Hướng Bắc giáp thửa 25 dài 9m.

Giao ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph đư c quyền sử dụng một nhà vệ sinh trị giá 6.081.000 đ ng; Một h chứa nước trị giá 5.194.000 đ ng; Một giếng khoan trị giá 3.072.000 đ ng.

Buộc ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph có nghĩa vụ thanh toán cho anh Trương Công T số tiền 3.040.500 đ ng (Ba triệu, không trăm, bốn mươi nghìn, năm trăm đ ng).

2. Tuyên bố h p đ ng chuyển như ng quyền sử dụng đ t giữa ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph và ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â lập ngày 01/01/2013 đối với diện tích 245,5 m2 thuộc thửa số 46 và thửa số 25, t bản đ số 7 đ t tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh là vô hiệu.

Ghi nhận ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â và ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph không yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đ ng vô hiệu.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xử sơ thẩm ngày 13/7/2017 bị đơn ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph kháng cáo với nội dung: Gi y sang như ng đ t cho anh T là gi y tay, anh T chưa giao đủ tiền đ t nên không có giá trị pháp lý. Trước khi sang như ng năm 2009 thì năm 2007 anh T đã thuê đ t làm gara th i hạn 5 năm nên anh T đổ đ t nâng nền, làm mái che phục vụ cho việc sửa xe là trước khi làm gi y sang như ng. C p sơ thẩm cho rằng anh T làm sau khi đã chuyển như ng xử ch p nhận cho lưu thông h p đ ng chuyển như ng là không đúng pháp luật. Hơn nữa phần diện tích 76,7m2 phía sau Tòa sơ thẩm buộc anh T giao lại cho ông bà sử dụng nhưng không có lối đi. Do vậy đề nghị c p phúc thẩm xử việc sang như ng đ t ngày 20/4/2009.

Ngày 13/7/2017 ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â có đơn kháng cáo với nội dung: Khi bản án phúc thẩm số 01/2013/DS - PT ngày 04/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh có hiệu lực thi hành, đ t là của ông L, bà Ph nhưng không có tiền thi hành án cho anh T nên ông L, bà Ph đã sang như ng đ t lại cho ông bà với giá 1.650.000.000 đ ng đã giao trước 1.265.000.000 đ ng. Sau đó bản án giám đốc thẩm hủy án nên ông bà không nhận đ t đư c. Bản án phúc thẩm xử ngày 04/6/2013 nhưng đ t sang như ng ngày 01/01/2013 nên yêu cầu đư c nhận đ t của ông L, bà Ph.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án. Ngư i đại diện h p pháp của ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan đ ng ý rút kháng cáo.

Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng thì Hội đ ng xét xử, Thẩm phán và những ngư i tham gia tố tụng đã ch p hành đúng những qui định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đ ng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bên đương sự đã thỏa thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph thừa nhận diện tích 169,2m2 c p sơ thẩm xử giao cho anh T là đúng, nay ông L, bà Ph đ ng ý chuyển như ng cho anh Trương Công T phần đ t còn lại có diện tích 76,3m2 với giá 300.000.000 đ ng, đ t thuộc thửa số 25, t bản đ số 7 (Liền kề phía sau đ t giao anh T), tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa 48 dài 4,08m;

Hướng Tây giáp thửa 25 dài 4,95;

Hướng Nam giáp thửa 24 dài 9m;

Hướng Bắc giáp thửa 25 dài 9m.

Anh Trương Công T đ ng ý thanh toán cho ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph số tiền 1.001.332.500 đ ng, trong đó 701.322.500 đ ng giá trị 38,263m2 phần đ t chênh lệch, 300.000.000 đ ng giá trị 76,3m2 đ t còn lại phía sau và các công trình phụ trên đ t g m nhà vệ sinh, h chưa nước, giếng khoan ông L, bà Ph đã đ ng ý chuyển như ng cho anh T.

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph đ ng ý nhận của anh Trương Công T số tiền 1.001.332.500 đ ng.

Ông L, bà Ph và anh T còn thỏa thuận anh Trương Công T đư c tiếp tục sử dụng tài sản có trên phần đ t nêu trên g m: Nhà c p 4C kết c u móng gạch, cột gạch, cột sắt, cửa sắt, mái tôn, nền xi măng diện tích 9m x 18,80m = 169,2m2 giá trị 165.900.000 đ ng.

Ông L, bà Ph đ ng ý l y tiền anh T thi hành án và trả để trả lại tiền mua đ t cho ông Đ, bà Â nên ngư i đại diện h p pháp cho ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â là anh Lên đ ng ý rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo của anh Lên đư c anh T, ông L đ ng ý.

ét th y, sự thỏa thuận giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm là ph h p.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trương Công T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph, ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â phải chịu.

Chi phí đo đạc, định giá tài sản: Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5, Điều 30 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009.

1.

Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2017/DS-ST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2. Các đương sự thỏa thuận với nhau cụ thể như sau:

Anh Trương Công T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph số tiền 1.001.332.500 đ ng, trong đó 701.322.500 đ ng giá trị 38,263m2 phần đ t chênh lệch, 300.000.000 đ ng giá trị 76,3m2 đ t còn lại phía sau và các công trình phụ trên đ t g m nhà vệ sinh, h chưa nước, giếng khoan ông L, bà Ph đã đ ng ý chuyển như ng cho anh T.

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph có nghĩa vụ chuyển như ng cho anh Trương Công T diện tích đ t 169,2 m2 thuộc thửa số 46 và một phần thửa số 25, t bản đ số 7, đ t tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Có tứ cận:

Hướng Đông giáp thửa 48 dài 18,8m;

Hướng Tây giáp thửa 25 dài 18,8m;

Hướng Nam giáp thửa 24 dài 9m;

Hướng Bắc giáp đư ng Nguyễn Trãi dài 9m.

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph có nghĩa vụ chuyển như ng cho anh Trương Công T phần đ t diện tích 76,3m2 với giá 300.000.000 đ ng thuộc thửa số 25, t bản đ số 7 (Liền kề phía sau đ t giao anh T), tọa lạc tại khu phố 5, phư ng IV, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; Có tứ cận:

Hướng Đông giáp thửa 48 dài 4,08m;

Hướng Tây giáp thửa 25 dài 4,95;

Hướng Nam giáp thửa 24 dài 9m;

Hướng Bắc giáp thửa 25 dài 9m.

Anh Trương Công T đư c tiếp tục sử dụng tài sản có trên phần đ t nêu trên g m: Nhà c p 4C kết c u móng gạch, cột gạch, cột sắt, cửa sắt, mái tôn, nền xi măng diện tích 9m x 18,80m = 169,2m2 giá trị 165.900.000 đ ng, một nhà vệ sinh trị giá 6.081.000 đ ng; Một h chứa nước trị giá 5.194.000 đ ng; Một giếng khoan trị giá 3.072.000 đ ng.

Ngư i đại diện của ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â là anh Lên đ ng ý rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo của anh Lên đư c anh T, ông L đ ng ý.

Chi phí đo đạc, định giá: Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph phải chịu 1.200.000 đ ng nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN trả cho anh Trương Công T.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với số tiền chưa thi hành.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Trương Công T phải chịu 42.039.975 (bốn mươi hai triệu không trăm ba mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi lăm) đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đư c kh u trừ 17.000.000 (mư i bảy triệu) đ ng anh T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003509 ngày 07/12/2016. Anh T còn phải nộp 25.040.000 (hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi nghìn) đ ng.

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â không phải chịu án dân sự sơ thẩm Chi cục thi hành dân sự thành phố TN, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho ông Đ, bà Â 300.000 đ ng đã nộp theo biên lai thu số 0003660 ngày 19/01/2017.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị Ph phải chịu 600.000 đ ng (sáu trăm nghìn đ ng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, đư c kh u trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đ ng (sáu trăm nghìn đ ng) theo biên lai số 0004345 ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

Ông Lương Công Đ, bà Huỳnh Quế Â phải chịu 600.000 đ ng (sáu trăm nghìn đ ng) tiền án phí dân sự phúc thẩm đư c kh u trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đ ng (sáu trăm nghìn đ ng) theo biên lai số 0004344 ngày 13 tháng 7 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ