vanban.org

Bản án 180/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng Thị M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng Thị M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/HS-ST
Ngày 13-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Lò Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Thiết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu:

- Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La: Bà Nguyễn Minh Diệp.

- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu: Ông Nguyễn Trọng Định.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đinh Thế Hải Tùng, ông Nguyễn Văn Đạt.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 189/2024/TLST-HS ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Sồng Thị M, sinh ngày 01/02/1961 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Sồng A S và bà Giàng Thị S (đều đã chết); chồng là Thào A N (Đã chết) và 04 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2024. Tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Sồng A P, địa chỉ: Tiểu khu 10, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 28/5/2024, tổ công tác Công an xã Tân Lập, huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Sồng Thị M đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện M đang cất giấu trong người 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng trên bề mặt có ký hiệu WY nghi là ma túy, loại Methamphetamine. M khai nhận đó là ma túy của M cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Sồng Thị M, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Sồng Thị M bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 28/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng 02 viên nén màu hồng thu giữ của Sồng Thị M được 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu M.

Tại Kết luận giám định số 1138 ngày 29/5/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy; loại Methamphetamine; khôi lượng của mâu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Sồng Thị M khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Ngày 28/5/2024 M đi bộ từ nhà ra đường dân sinh thuộc bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi M đang đi trên đường thì gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết được 02 viên hồng phiến với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý M cất giấu vào trong người rồi đi về nhà, trên đường đi về gặp tổ công tác Công an xã Tân Lập kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng nêu trên.

Cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Sồng Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sồng Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sồng Thị M từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng Thị M.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Sồng Thị M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Số ma túy tổ công tác Công an xã Tân Lập thu giữ của bị cáo vào ngày 28/5/2024 có nguồn gốc do bị cáo mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Tân Lập lập vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 28/5/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản Kết luận giám định số 1138 ngày 29/5/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: là chất ma túy, loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ 0,20 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng, do đó Sồng Thị M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng Thị M. Xét đây là vật không có giá trị sử dụng, căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ: Sồng Thị M khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông ở khu vực bản Tà Phềnh, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu vào ngày 28/5/2024, Sồng Thị M không biết họ tên, địa chỉ của người phụ nữ đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ mở rộng điều tra.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo

Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Sồng Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Sồng Thị M 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 túi nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng Thị M.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ