- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự về tội giao cấu với người từ đủ 13- dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh D phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 180/2024/HS-ST Ngày: 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣơng Quang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Phƣớc Đức – Nguyên giáo viên trƣờng THCS Dƣơng Đông 1
2. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm Linh Giang – Cán bộ hƣu trí
Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Đặng Mỹ Phƣơng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Anh D, sinh năm 1993 Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Không.
Nơi sinh: P, Kiên Giang.
Nơi ĐKTT: Ấp 3, xã C, thành phố P, Kiên Giang.
Chỗ ở: Ấp 3, xã C, thành phố P, Kiên Giang.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê, Trình độ học vấn: 6/12.
Cha: Lý Văn K, còn sống Mẹ: Phù Ái S, còn sống.
Anh, chị, em ruột: (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất 1996)
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/06/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Ngƣời bị hại: Cháu Nguyễn Thị Kiều L, sinh ngày 24/12/2010 (có mặt).
Đại diện hợp pháp của cháu L: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1975 (mẹ ruột có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã C, thành phố P, Kiên Giang
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu L: Ông Mai Tấn T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 07/6/2024, Nguyễn Thị Kiều L (sinh ngày 24/12/2010, được 13 tuổi 05 tháng 14 ngày) đang đi bán vé số dạo tại khu vực nhà văn hóa xã C thuộc ấp L, xã C, thành phố P thì gặp Lý Anh D. Do có quen biết nhau nên Lý Anh D rủ L đi đến khu vực D thuộc ấp L, xã C để bán vé số, L đồng ý và cùng D đến khu vực D. Đến nơi, do không bán được vé số nên D và L ngồi tại ghế gỗ ở bãi biển C khoảng 50m để nói chuyện. Khoảng 18 giờ cùng ngày, trong lúc nói chuyện thì D có dùng tay choàng qua vai, ôm L và nói thích L. Lúc này, D nảy sinh ý định quan hệ tình dục với L nên hỏi ý kiến L thì L đồng ý. D dẫn L đi vào nhà khu nhà vệ sinh phía sau Dinh Bà, cả hai vào phòng vệ sinh thứ 2 (ở giữa) D tự cởi quần áo của D và quần của L, D và L ôm hôn nhau và quan hệ tình dục với nhau, khoảng 15 phút, D cho xuất tinh ra ngoài. Lúc này, Châu Hồng T1 gọi điện thoại rủ D đến nhà của T1 ở ấp L, xã C uống rượu, D đồng ý và đưa L đi cùng. Đến nhà T1, L ngồi ăn còn D thì uống rượu với T1. Sau khi ăn uống ở nhà T1 xong, D dẫn L ra bãi biển C khoảng 100m ngồi nói chuyện với nhau. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D và em L tiếp tục quan hệ tình dục với nhau tại bãi biển K phút thì xuất tinh ra ngoài. Sau đó, D đưa L về đến gần nhà L rồi D đi về nhà mình. Khoảng 30 phút sau, khi biết gia đình L đi tố giác tại công an xã C nên D đã đến công an xã C để đầu thú hành vi phạm tội và bị tạm giữ. Đến ngày 14/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố và tạm giam để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- 01 (một) USB màu xanh, chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh của D và L tại khu vực D (do ông Trần Thanh T2 giao nộp) đưa vào hồ sơ vụ án;
- 01 (một) cái áo màu vàng, loại dài tay, vị trí cổ áo có đường viền vải màu xanh - đỏ, trên áo có dính vết màu nâu – đỏ, trên cổ áo có chữ G, sarah HT, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần vải màu vàng, loại quần dài, vị trí lai quần có đường viền vải màu xanh - đỏ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần lót màu xanh, không có nhãn hiệu, có dính chất màu nâu - đỏ, đã qua sử dụng.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại và đại diện theo pháp luật của bị hại yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục trẻ em số: 391/KLTDTE-PY ngày 11/6/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K, kết luận đối với em Nguyễn Thị Kiều L như sau:
- Màng trinh có vết rách 3 giờ, 6 giờ và 9 giờ. Vết rách vị trí 6 giờ sâu đến chân màng trinh. Màng trinh và âm đạo dãn rộng.
- Đã có vật có đường kính từ 2,5cm trở lên đưa qua lỗ màng trinh và âm đạo.
- Các vết rách màng trinh còn rướm máu, phù hợp với thời điểm xảy ra vụ việc.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D không khiếu nại gì về kết luận giám định số 391/KLTDTE - PY ngày 11/06/2024 của Trung tâm P1 – Sở y tế tỉnh K.
Tại bản cáo trạng số: 175/CT-VKSPQ ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Lý Anh D về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lý Anh D về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Lý Anh D từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị P đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Kiều L yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khoẻ số tiền 50.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm gì khác. Bị cáo Lý Anh D đồng ý bồi thường cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) cái áo màu vàng, loại dài tay, vị trí cổ áo có đường viền vài màu xanh - đỏ, trên áo có dính vết màu nâu – đỏ, trên cổ áo có chữ G, sarah HT, đã qua sử dụng:
- 01 (một) quần vải màu vàng, loại quần dài, vị trí lai quần có đường viền vải màu xanh - đỏ, đã qua sử dụng:
- 01 (một) quần lót màu xanh, không có nhãn hiệu, có dính chất màu nâu- đỏ, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại – Ông Mai Tấn T trình bày: Thống nhất với quan điểm luận tội và hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét diễn biến vụ việc để áp dụng mức hình phạt cao nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 03 năm 06 tháng tù. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận với Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lý Anh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Ngày 07/06/2024 tại khu vực D thuộc ấp L, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, L D và Nguyễn Thị Kiều L đã tự nguyện quan hệ tình dục với nhau 02 lần. Tại thời điểm ngày 07/06/2024, bị hại Nguyễn Thị Kiều L mới 13 tuổi 05 tháng 14 ngày.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lý Anh D đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự 2015 có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm.
. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo D sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị P đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị Kiều L thay đổi yêu cầu bồi thường, yêu cầu bị cáo Lý A Duyên bồi thường thiệt hại sức khoẻ và tinh thần số tiền 50.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm gì khác. Bị cáo Lý Anh D đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
. Về quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trợ giúp viên pháp lý – Ông Mai Tấn T cho bị hại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh D phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Lý Anh D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/06/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Anh D phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Kiều L và đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị P số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) cái áo màu vàng, loại dài tay, vị trí cổ áo có đường viền vài màu xanh - đỏ, trên áo có dính vết màu nâu – đỏ, trên cổ áo có chữ G, sarah HT, đã qua sử dụng:
- 01 (một) quần vải màu vàng, loại quần dài, vị trí lai quần có đường viền vải màu xanh - đỏ, đã qua sử dụng:
- 01 (một) quần lót màu xanh, không có nhân hiệu, có dính chất màu nâu - đỏ, đã qua sử dụng.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển vật chứng số 165/QĐ-VKSPQ ngày 17/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKS thành phố Phú Quốc; - THA Dân sự; - TAND tỉnh KG; - Nhà tạm giữ TP. Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA TP. Phú Quốc; - CCTHA TP. Phú Quốc; - Bị cáo, bị hại; - Người đại diện theo hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lƣơng Quang Thanh |