- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Huỳnh H - Huỳnh Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/8/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh;
2. Ông Mai Huy Mân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Huỳnh H, sinh năm 1997, (có mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H1, sinh năm 1994, (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 31/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Đặng Thị Huỳnh H trình bày:
Chị và anh Huỳnh Văn H1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H1 không quan tâm chăm lo đến vợ con. Chị và anh H1 đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn H1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 08/10/2017. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án nêu r yêu cầu của nguyên đơn, đơn khởi kiện, bản tự khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H1 vắng mặt không lý do và c ng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu ly hôn với anh H1, bị đơn anh H1 cư trú tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh H1 vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93 vào ngày 27/6/2016, được xem là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của chị H thì sau khi kết hôn, chị và anh H1 chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm. Anh chị không còn liên lạc và quan tâm cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị H và anh H1 đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị H và anh H1 thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn với nhau, sống ly thân trong thời gian dài, cho thấy hôn nhân giữa hai người lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tại phiên tòa, chị H cương quyết xin ly hôn với anh H1 vì chị đã không còn tình cảm với anh H1. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh H1, mở phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh H1 vắng mặt không lý do và c ng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh H1 không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Do đó, chị H yêu cầu xin ly hôn với anh H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh H1 có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 08/10/2017. Xét thấy, từ khi chị H và anh H1 sống ly thân thì cháu N sống với chị H, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định. Tại bản tự khai của cháu N có nguyện vọng sống với chị H khi anh H1 và chị H ly hôn. Đồng thời tại văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân và điều kiện nuôi con, chính quyền địa phương ấp B, xã T xác nhận chị H có mức thu nhập hàng tháng là 7.790.000 đồng, đủ điều kiện để nuôi con. Anh H1 không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi con chung của chị H. Vì vậy, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.3. Về cấp dưỡng: Chị H chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Huỳnh H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Huỳnh Văn H1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 08/10/2017 cho chị Đặng Thị Huỳnh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh Huỳnh Văn H1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Huỳnh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002811 ngày 13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên chị H đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - UBND xã Tam Bình, H. Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Thị Mỹ Nhanh |