vanban.org

Bản án 180/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 180/2023/HSST
Ngày: 17/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tiến Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương

Bà Hoàng Thị Cát Phương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo – thư ký Tòa án nhân dân huyện N

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện N xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vu ̣ án hình sự sơ thẩm thu ̣ lý số: 155/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 07 năm 2023, thông báo thay đổi thời gian xét xử số 746/TB-TA ngày 26 tháng 7 năm 2023 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 762/TB-TA ngày 08 tháng 08 năm 2023, đối vớ i bi ̣ cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 25/01/1996 tại tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, chỗ ở hiện nay: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: kinh, Tôn giáo: không, trình độ học vấn: 4/12, con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960, và bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1964, bị cáo chưa có vợ con.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2023, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 - Công an tỉnh Đồng Nai. (bị cáo có mặt)

Tiền án: Không

Tiền sự: Không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khỏang 17 giờ ngày 14/01/2023, H (không rõ nhân thân) điện thoại nhờ Nguyễn Văn T đến hẻm gần cây xăng Phú Thạnh thuộc xã P, huyện N nhận ma túy giao bán cho người thanh niên (Không rõ nhân thân) ở khu vực nhà nghỉ Thiên Kim thuộc ấp Trầu, xã P1, huyện N. H sẽ trả công cho T số tiền 2.000.000 đồng, T đồng ý. T thuê Lý Nhựt L, tạm trú tại ấp 2, xã L, huyện N chở T đi công việc và trả tiền công. L không biết T đi giao ma túy nên đồng ý. L chở T đến hẻm gần cây xăng Phú Thạnh, xã P, T đi bộ vào phía trong hẻm thì được một người đàn ông (không rõ nhân thân) chỉ T đến địa điểm để ma túy, T nhặt gói ma túy để dưới gốc cây cất giấu vào trong túi quần bên trái. Sau đó T đi ra và yêu cầu L chở đến khu vực nhà nghỉ Thiên Kim. Đến nơi, T lấy gói ma túy từ trong túi quần ra cầm trên tay đứng chờ giao ma túy thì bị Công an xã P1 phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

01 Điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh gắn sim 0359445596

01 gói nilon hàn kín, kích thước khoảng 5x10 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong)

01 Mô tô biểm kiểm soát 68 G1- 973.32 của chị ruột Lý Nhựt L là Lý Yến N

Tại bản kết luận giám định số: 105/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của phòng kỷ thuật hình sự Công án tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 15,7471 gam loại Methamphetamine

Tại bản cáo trạng số: 137/CT.VKS.NT ngày 31/5/2023 của VKSND huyện N đã truy tố bị cáo như sau:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy ” quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội cần phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Nguyễn Văn T từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù giam.

+ Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Toà tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy có khối lượng: 15,7471 gam loại Methamphetamine (gói niêm phong mẫu vật chứa ma túy số số 105/KL-KTHS ngày 18/01/2023)

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra huyện N, điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên huyện N trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khỏang 17 giờ ngày 14/01/2023, Nguyễn Văn T nhận ma túy của H (không rõ nhân thân).T thuê Lý Nhựt L chở đi giao ma túy cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) tại khu vực nhà nghỉ Thiên Kim. Trong thời điểm đứng chờ giao ma túy thì bị Công an xã P1 phát hiện bắt quả tang.

[3] Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập. Xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bi ̣ cáo Nguyễn Văn T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Xét tính chất hành vi phạm tội:

Xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe của con người, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần phải xét xử nghiêm nhằm để răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

- Tình tiết tăng nặng: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N áp dụng tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy có khối lượng: 15,7471 gam loại Methamphetamine (gói niêm phong mẫu vật chứa ma túy số 105/KL-KTHS ngày 18/01/2023)

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi (biên bản giao nhận ngày 29/6/2023)

- 01 Mô tô biển kiểm soát 68 G1- 973.32 của Lý Yến Nhi đã trả theo quyết định xử lý vật chứng số 130/QĐ-CQĐT-MT của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i, khoản 2, Điều 251, Điều 15, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2023.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy: Gói ma túy có khối lượng: 15,7471 gam loại Methamphetamine (niêm phong mẫu vật chứa ma túy số 105/KL-KTHS ngày 18/01/2023)

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi (biên bản giao nhận ngày 29/6/2023)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ