- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức Thành - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2023/HS-ST Ngày: 28-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Ông Đỗ Quang Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đức T, sinh năm 1989 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số nhà 48 đường ĐHL, phường TN, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Viết N và bà Trần Thị NG; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28-01-2012 Công an phường TN, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 28-8-2006, Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xét xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 10-6-2017, Công an phường TT, thành phố NĐ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 07-9-2022, Công an phường BT, thành phố NĐ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 13-6-2023, chuyển tạm giam từ ngày 22-6-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố NĐ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13-6-2023, tổ công tác Công an thành phố NĐ làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 2/48 AP, phường QT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định phát hiện Vũ Đức T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1- 512.30 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. T tự giác lấy từ trong miệng ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là 01 gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Đức T. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1 - 512.30 và 01 chiếc điện thoại di động màu trắng, mặt sau có chữ Vivo, mặt trước bị nứt vỡ, không có số imei, đều đã cũ.
Bản kết luận giám định số 904/KL-KTHS ngày 16-6-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (Heroin); Khối lượng mẫu: 0,126 gam.
Tại cơ quan điều tra, Vũ Đức T khai nhận: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 13-6-2023, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1- 512.30 từ nhà đến khu vực ngõ AP, phường QT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định, đi đến trước cửa một ngôi nhà hai tầng sơn màu vàng, cửa gỗ màu nâu, mua qua khe cửa 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng (T không rõ người bán ma túy là ai). T cho 01gói Heroine vào trong miệng rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố NĐ phối hợp với Công an phường QT, thành phố NĐ tiến hành xác minh ngôi nhà nơi T mua ma túy. Kết quả xác minh không có ngôi nhà nào có vị trí và đặc điểm như lời khai của T.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Vũ Đức T, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố NĐ tách ra để điều tra, xử lý sau.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1- 512.30 là tài sản của anh Trần Đức H, sinh năm 1979, trú tại 103 đường TB, phường LH, thành phố NĐ. Anh H không biết T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố NĐ trả lại xe cho anh H.
Chiếc điện thoại di động màu trắng, mặt sau có chữ Vivo, mặt trước bị nứt vỡ không có số imei là tài sản của Vũ Đức T nên chuyển theo vụ án để đảm bảo thi hành án.
Bản cáo trạng số 185/CT-VKS-TPNĐ ngày 08-8-2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ truy tố Vũ Đức T tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai nguyên nhân bị cáo phạm tội do bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Đức T.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về tội danh:
Khoảng 06 giờ 30 ngày 13-6-2023, Vũ Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,126 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 2/48 AP, phường QT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.
Hành vi của bị cáo Vũ Đức T còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung tăng nặng:
Hành vi của bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Vũ Đức T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố với mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.
Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không nhiều nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy bị thu giữ trong phong bì niêm phong số 904/KL-KTHS là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo, xét là tài sản riêng của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sụ sơ thẩm.
Án phí Hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Vũ Đức T bị kết án nên phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Đức T 18 (mười tám) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 904/KL-KTHS.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màu trắng, mặt sau có chữ Vivo, mặt trước bị nứt vỡ đã cũ (không kiểm tra chất lượng bên trong) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 11-8-2023 giữa Công an thành phố NĐ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố NĐ).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Vũ Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Vũ Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |