vanban.org

Bản án 180/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN ĐOÀN - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2023/HS-ST
Ngày 30-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TH PHỐ HẢI PHÒNG

- TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Mạnh

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân TH phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TH phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân TH phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Bắc, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Khanh (đã chết) và con bà Bùi Thị NH; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/12/2022; chuyển tạm giam ngày 29/12/2022; có mặt.

2. Nguyễn Trung TU, sinh năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 3, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, TH phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trung Hiển và con bà Đỗ Thị Tình; có vợ là Nguyễn Thị Yến; chưa có con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 113/HSST ngày 06/9/2011 Tòa án nhân dân TH phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (ra trại ngày 02/10/2018), đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 21/02/2023; chuyển tạm giam ngày 24/02/2023; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị NH, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Bắc, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Văn H; vắng mặt;

+ Bà Nguyễn Thị TH; vắng mặt;

+ Chị Nguyễn Thị TR; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 15 phút ngày 26/12/2022, tại khu vực thôn Hạ, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TH phố Hải Phòng bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải Nguyễn Văn Đ đang mặc 03 túi nilon trong chứa tinh thể màu trắng, Đ khai là ma túy đá Đ đang mang đi bán cho khách; ngoài ra thu giữ của Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 15C1-12971, 02 điện thoại di động, 01 ví da trong có 01 căn cước công dân, 01 đăng ký xe mô tô và số tiền 18.980.000 đồng. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Đ.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ, kết quả thu giữ:

- Thu trong ngăn tủ đứng ở phòng ngủ của Đ 01 hộp giấy màu trắng trong có: 01 túi nilon kích thước 5x8cm trong chứa tinh thể màu trắng; 10 túi nilon cùng kích thước 2,5x2cm và 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm trong đều chứa tinh thể màu trắng; 01 ống nhựa cắt vát đầu, nhiều vỏ túi nilon.

- Thu trong ngăn tủ ở phòng khách 01 cân điện tử và thu trong ngăn tủ tại phòng sát phòng ngủ của Đ 01 cân điện tử.

Quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Đ còn có mặt các đối tượng: Trương Thanh Hoàng, sinh năm 1996, trú tại: Thôn Thuần Tỵ, xã An Hồng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng; Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1996, trú tại: Thôn Hỗ Đông, xã Hồng Phong, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng; Nguyễn Văn Quyền, sinh năm 1989, trú tại: Thôn Lê Sáng, xã An Hồng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng và Nguyễn Văn Điển, sinh năm 1994, trú tại: Thôn Bắc, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng. Tiến hành xét nghiệm thử phản ứng với chất ma túy, kết quả: Hoàng, Hùng, Quyền, và Điển đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 116/KL-KTHS(MT) ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TH phố Hải Phòng kết luận: số tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn Đ là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,7 gam; số tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 3,82 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Đ khai nhận toàn bộ số tinh thể màu trắng mà Cơ quan công an đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Đ là ma túy loại Methamphetamine do Đ mua của Nguyễn Trung TU để bán kiếm lời.

Hồi 16 giờ 25 phút ngày 21/02/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TH phố Hải Phòng phối hợp cùng Công an huyện Thủy Nguyên đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Trung TU vừa đi ra từ nhà tại khu vực Thôn 3, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, TH phố Hải Phòng đang cầm trong tay phải 01 vật bằng nhựa có hai nắp màu đỏ có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với TU thì TU ném vật bằng nhựa trên vào sân nhà dân cạnh đó. Tiến hành thu giữ và kiểm tra bên trong vật bằng nhựa trên có 01 túi nilon màu trắng trong chứa tinh thể màu trắng, TU khai là ma túy đá TU đang mang đi bán cho khách. Cơ quan Công an sau đó đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với TU.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trung TU, kết quả thu giữ:

- Thu trên mặt đệm ngủ phía sau bên trái trong phòng ngủ của TU 01 túi nilon màu trắng kích thước 2x2cm trong chứa tinh thể màu trắng.

- Thu dưới đệm ngủ phía sau bên trái trong phòng ngủ của TU 01 băng dính màu đen được gập lại TH hình túi kích thước 1,5x2cm trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TH phố Hải Phòng kết luận: Số tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trung TU là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,16 gam; số tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của TU là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,37 gam.

Tại Cơ quan điều tra, xét hỏi Nguyễn Văn Đ khai nhận: Đ và Nguyễn Trung TU có mối quan hệ quen biết xã hội, Đ biết TU có bán ma túy đá và thường xuyên mua ma túy của TU để sử dụng với giá khoảng 1.200.000 đồng/01 gam. Đầu tháng 12/2022, do không có nghề nghiệp ổn định nên Đ nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời với cách thức: Khi có khách hỏi mua ma túy, Đ sẽ liên lạc và mua ma túy của TU sau đó tăng giá rồi bán lại cho khách hoặc giữ nguyên giá nhưng bớt lại một ít ma túy để bản thân sử dụng trước khi bán cho khách. Ngoài ra, những lúc khách hỏi mua ma túy của Đ, nếu Đ bận không đi lấy ma túy từ chỗ TU thì Đ sẽ bảo khách sang trực tiếp mua ma túy của TU. Đ khai đã nhiều lần mua ma túy của TU để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng chỉ nhớ được các lần sau: Khoảng ngày 06/12/2022 Đ đã mua một lần 500.000 đồng và một lần 600.000 đồng tiền ma túy đá của TU để bản thân sử dụng. Đến sáng ngày 16/12/2022, Đ tiếp tục mua của TU 01 gam ma túy đá với giá 1.200.000 đồng để bản thân sử dụng. Khoảng tối cùng ngày, có một người khách nam giới (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) gặp và hỏi mua của Đ 01 gam ma túy đá, do Đ có việc bận nên đã liên lạc với TU để nhờ TU bán cho khách của Đ 01 gam ma túy đá với giá 1.200.000 đồng, TU đồng ý và hẹn khách của Đ giao dịch tại khu vực chân cầu Kiền gần nhà TU để giao dịch, người khách nam giới trên đã đưa cho Đ 1.200.000 đồng và đến nơi hẹn với TU để lấy 01 gam ma túy đá. Đ sau đó đã chuyển khoản 600.000 đồng và đưa 600.000 đồng tiền mặt cho TU.

Đến đêm ngày 16/12/2022, Đ nảy sinh ý định mua ma túy về nơi ở cất giữ để chia nhỏ bán kiếm lời, Đ liên lạc với TU hỏi mua 10 gam ma túy đá thì được TU báo giá là 8.000.000 đồng và hẹn Đ giao dịch ở khu vực chân cầu Kiền, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, TH phố Hải Phòng giao dịch. Mua được ma túy, Đ mang về chia nhỏ vào các túi nilon mỗi túi chứa khoảng 0,3 gam, 0,4 gam, 0,5 gam ma túy đá và bán cho khách với giá tương ứng mỗi túi là 300.000 đồng, 400.000 đồng, 500.000 đồng và đã bán hết được cho nhiều khách. Đến ngày 23/12/2022, Đ tiếp tục liên lạc và mua được của TU khoảng 10 gam ma túy đá với giá 8.000.000 đồng tại khu vực chân cầu Kiền. Mua được ma túy, Đ mang về nơi ở chia nhỏ và đã bán được cho nhiều khách. Đến khoảng 10 giờ ngày 26/12/2022, khi Đ đang ở nhà thì có một nam giới (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) liên lạc với Đ hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Đ đồng ý và hẹn giao dịch ở khu vực đầu đường Quốc lộ 5, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng. Sau đó Đ mặc áo khoác trong túi áo bỏ sẵn 03 túi ma túy đá từ trước và điều khiển xe mô tô BKS 15C1-12971 đi đến nơi hẹn. Khi đi đến khu vực thôn Hạ, xã An Hưng, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng.

Đối với các đối tượng Nguyễn Văn Hùng, Trương Thanh Hoàng, Nguyễn Văn Quyền và Nguyễn Văn Điển có mặt tại nơi ở của Đ khi Cơ quan Công an tiến hành khám xét nơi ở của Đ, Đ khai Hùng, Hoàng, Quyền, Điển là các đối tượng sống gần nhà Đ, thỉnh thoảng có sang nhà Đ chơi và mua ma túy của Đ về sử dụng, cụ thể Đ đã bán ma túy cho Hùng, Hoàng và Quyền các lần sau:

- Đ đã 02 lần bán cho Nguyễn Văn Hùng lần mỗi lần 300.000 đồng tiền ma túy đá vào ngày 12/12/2022 và ngày 25/12/2022.

- Đ đã 02 lần bán cho Trương Thanh Hoàng lần mỗi lần 300.000 đồng tiền ma túy đá vào ngày 20/12/2022 và ngày 24/12/2022.

- Đ đã 02 lần bán cho Nguyễn Văn Quyền lần mỗi lần 300.000 đồng tiền ma túy đá vào Khoảng đầu tháng 12/2022 và ngày 25/12/2022, tuy nhiên Quyền còn nợ lại Đ tiền ma túy đá vào ngày 25/12/2022.

Đối với các số điện thoại người nam giới đã liên lạc hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá của TU và của đối tượng tên Thủy đã bán ma túy cho TU, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín nhưng đến nay chưa có kết quả, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ sau.

Lời khai Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trung TU tại cơ quan điều tra tương đối phù hợp nhau, phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định về ma túy cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở xác định:

Từ khoảng đầu tháng 12/2022 đến ngày 26/12/2022, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi nhiều lần mua trái phép 20 gam ma túy loại Methamphetamine, sau đó đã bán được 15,48 gam cho nhiều khách, còn lại 4,52 gam để tiếp tục bán kiếm lời, ngày 26/12/2022 khi đang mang 0,7 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho khách thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Ngoài ra, ngày 16/12/2022, Đ đã có hành vi giúp sức cho Nguyễn Trung TU bán trái phép 01 gam ma túy loại Methamphetamine. Nguyễn Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 21 gam ma túy loại Methamphetamine.

Nguyễn Trung TU đã nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích kiếm lời, cụ thể: 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ (01 lần bán 500.000 đồng, 01 lần bán 600.000 đồng, 01 lần bán 01 gam) và bán 01 gam cho khách của Đ. Ngày 21/02/2023, TU đã có hành vi mua trái phép 800.000 đồng tiền ma túy loại Methamphetamine, TU đã sử dụng một ít, còn lại 0,53 gam để bán kiếm lời, khi đang mang 0,16 gam ma túy loại Methamphetamine đi bán cho khách thì bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ vật chứng. Nguyễn Trung TU phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 2,53 gam ma túy loại Methamphetamine. Đối với việc Đ khai đã 02 lần mua tổng cộng 20 gam ma túy đá từ TU, ngoài lời khai của Đ không còn chứng cứ, tài liệu nào khác nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với TU về khối lượng ma túy này.

Vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, số tiền 18.900.000 đồng và các đồ vật, tài sản khác được thu giữ trong quá trình điều tra – chuyển Cục thi hành án dân sự TH phố Hải Phòng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 15C1-12971 và 01 đăng ký xe mô tô trên mang tên Trần Đức Ánh thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn Đ, Đ khai mua lại của một cửa hàng khu vực Quán Toan, quận Hồng Bàng, TH phố Hải Phòng (chưa xác định được địa chỉ). Xác minh người đứng tên đăng ký xe là Trần Đức Ánh, sinh năm 1994, trú tại: Thôn Văn Tiến, xã Đại Bản, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng. Xác minh tại nơi cư trú, hiện anh Trần Đức Ánh vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách chiếc xe cùng đăng ký xe trên ra để tiếp tục xác minh, làm rõ sau.

Tại Bản Cáo trạng số 180/CT-VKS-P1 ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân TH phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trung TU về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận: Từ khoảng đầu tháng 12/2022 đến ngày 26/12/2022, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 20 gam ma túy loại Methamphetamine và giúp sức cho Nguyễn Trung TU mua bán trái phép 01 gam ma túy loại Methamphetamine. Từ ngày 06/12/2022 đến ngày 21/02/2023, Nguyễn Trung TU đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 2,53 gam ma túy loại Methamphetamine

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TH phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 13 năm đến 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung TU từ 08 năm đến 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đ từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng; phạt tiền bị cáo TU từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Đ và bi cáo TU đều rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo sớm có cơ hội trở về Đ tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TH phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân TH phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người làm chứng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án do đã có lời khai trong hồ sơ, các bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt này nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

Lời khai trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét, Kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để xác định: Từ khoảng đầu tháng 12/2022 đến ngày 26/12/2022, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 20 gam ma túy loại Methamphetamine và giúp sức cho Nguyễn Trung TU mua bán trái phép 01 gam ma túy loại Methamphetamine. Từ ngày 06/12/2022 đến ngày 21/02/2023, Nguyễn Trung TU đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 2,53 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Trung TU phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân TH phố Hải Phòng truy tố và kết luận tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền và thống nhất các chất ma tuý của Nhà Nước. Ma tuý là loại chất gây nghiện rất nguy hiểm. Vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma tuý không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma tuý của Nhà Nước mà còn đe doạ nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển chung của đất nước. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và mới có tác dụng đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Trung TU trước có 01 tiền án về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tuy đã được xóa nên được xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.

Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo TH khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Hành vi của các bị cáo nhằm tính chất thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp giấy màu trắng, cân điện tử, túi nilong và ví da màu nâu thu giữ của Nguyễn Văn Đ là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có số IMEI: 354829092226749 thu giữ của Nguyễn Văn Đ và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO màu xanh có số IMEI1: 862210040797732 và IMEI2: 862210040797724 thu giữ của Nguyễn Trung TU được sử dụng liên lạc vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 18.980.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ, lời khai thể hiện 18.000.000 đồng là tiền của mẹ đẻ bị cáo (bà Bùi Thị NH) không liên quan việc phạm tội nên trả lại cho bà NH. Số tiền 980.000 đồng còn lại là tiền của bị cáo sử dụng trong giao dịch liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc có số IMEI:351665068206429 thu giữ của Nguyễn Văn Đ lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện bị cáo không sử dụng để liên lạc, giao dịch mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo Đ nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.

Trả lại bị cáo TU 01 căn cước công dân; trả lại cho bị cáo Đ 01 căn cước công dân.

- Về các vấn đề khác:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS 15C1-12971 và 01 đăng ký xe mô tô trên mang tên Trần Đức Ánh thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn Đ, Đ khai mua lại của một cửa hàng khu vực Quán Toan, quận Hồng Bàng, TH phố Hải Phòng (chưa xác định được địa chỉ). Xác minh người đứng tên đăng ký xe là Trần Đức Ánh, sinh năm 1994, trú tại: thôn Văn Tiến, xã Đại Bản, huyện An Dương, TH phố Hải Phòng. Xác minh tại nơi cư trú, hiện anh Ánh vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách chiếc xe cùng đăng ký xe trên ra để tiếp tục xác minh, làm rõ sau.

- Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 13 (Mười ba) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/12/2022.

- Căn cứ điểm điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung TU 08 (Tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/02/2023.

Về hình phạt bổ sung:

+ Phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

+ Phạt bị cáo Nguyễn Trung TU số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định gồm: 01 bì thư niêm phong số 190MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TH phố Hải Phòng, trên niêm phong có chữ ký của Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Sơn, Đỗ Thị Hoa, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị TH điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị TR và điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Trung TU; 01 bì thư niêm phong số 190MT-A/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TH phố Hải Phòng, trên niêm phong có chữ ký của Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Sơn, Đỗ Thị Hoa, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị TH điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị TR và điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Trung TU; 01 bì thư niêm phong số 116MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TH phố Hải Phòng, trên niêm phong có chữ ký của Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Đình Thạo, Ngô Thị Bích Thảo, Bùi Thị NH và Nguyễn Văn Đ;

+ 01 cân điện tử màu nâu kích thước khoảng 7cm x 3cm x 2cm của Nguyễn Văn Đ;

+ 01 cân điện tử màu đen kích thước khoảng 8cm x 4cm x 3cm của Nguyễn Văn Đ;

+ 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 10cm x 10cm x 3cm của Nguyễn Văn Đ;

+ 01 ống nhựa màu trắng, một đầu cắt vát dài khoảng 8cm của Nguyễn Văn Đ;

+ 10 vỏ túi nilon màu trắng kích thước khoảng 2,3cm x 2,5cm của Nguyễn Văn Đ;

+ 01 ví giả da màu nâu thu giữ của Nguyễn Văn Đ.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có số IMEI: 354829092226749 thu giữ của Nguyễn Văn Đ và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO màu xanh có số IMEI1: 862210040797732 và IMEI2: 862210040797724 thu giữ của Nguyễn Trung TU nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.

- Trả lại bà Bùi Thị NH số tiền 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng) theo Ủy nhiệm chi lập ngày 22/8/2023 tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng;

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước só tiền 980.000 đồng (Chín trăm tám mươi nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi lập ngày 22/8/2023 tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng;

- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc có số IMEI:351665068206429;

- Trả lại Nguyễn Trung TU 01 căn cước công dân số 031087010415 mang tên Nguyễn Trung TU;

- Trả lại Nguyễn Văn Đ 01 căn cước công dân số 031096001775 mang tên Nguyễn Văn Đ.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự TH phố Hải Phòng).

3. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trung TU, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ