- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N tàng trữ trái pháp chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2022/HS-ST Ngày 26/10/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2022/QĐST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:
Bùi Văn N , sinh năm 1973; tại: Thanh Hóa; Trú tại: Khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân Th (đã chết) và bà Đinh Thị B ; có vợ tên Võ Thanh V (đã ly hôn), có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền sự: không; Tiền án: Theo bản án số: 89/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã xử phạt Bùi Văn N 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/7/2020; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/6/2022, tạm giam ngày 27/6/2022. ( Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu – Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn N là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 18 giờ ngày 20/6/2022, N đi đến khu vực vòng xoay siêu thị Coop Mart thành phố Bà Rịa gặp một người đàn ông tên H (không rõ lai lịch) mua 10 gói ma túy đá với giá 1.500.000đ đem về nhà tại khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu cất giấu nhằm mục đích sử dụng dần. Tại đây N lấy 01 gói ra sử dụng hết, 09 gói còn lại N để trong túi quần phía trước bên trái. Đến 14 giờ 10 phút ngày 21/6/2022 Công an thị xã Phú Mỹ phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện và bắt quả tang N đang cất giấu 09 gói ma túy trong túi quần nhằm mục đích sử dụng dần. Vật chứng thu giữ: 09 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động Nokia, mà đen.
Tại Bản kết luận giám định số: 294/KL ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 09 gói nylon hành kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường P, cùng chữ ký của Trung tá Lâm Thế Hùng, Bùi Văn N gửi đến giám định có khối lượng 1,4009 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số: 132/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã truy tố Bùi Văn N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố theo như bản cáo trạng và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra; đặc điểm nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong vụ số 294 ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cho bị cáo Nam.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn N thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 21/6/2022, tại khu phố Hải Sơn, phường Phước Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu, bị cáo Bùi Văn N đang cất giấu 1,4009 gam ma tuý, loại Methamphetamine trong túi quần của mình nhằm mục đích sử dụng dần thì bị bắt quả tang.
Hành vi cất giấu ma túy để sử dụng nêu trên của bị cáo Bùi Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn N là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại to lớn của ma túy đối với sức khỏe con người và những ảnh hưởng tiêu cực mà ma túy gây ra cho mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội. Bị cáo biết rõ Nhà nước nghiêm cấm tất cả các hành vi tàng trữ, trái phép chất ma túy nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã bị xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành xong không biết tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Theo bản án số 89/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã xử phạt Bùi Văn N 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, N chấp hành xong ngày 20/7/2020, chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Lần phạm tội này mặc dù bị cáo chưa thật sự ăn năn hối cải, chưa tu dưỡng bản thân nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn N mua ma túy về để sử dụng, không có lợi nhuận, bị cáo đi làm thuê, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho bị cáo N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Khi nào xác minh và làm rõ được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong vụ số 294 ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu niêm phong và đóng dấu, bên trong có chứa chất ma tuý sau khi giám định còn lại, đây là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia là tài sản của bị cáo dùng để phục cho sinh hoạt cá nhân, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ truy tố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo như bản cáo trạng là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
+ Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong vụ số 294 ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu niêm phong và đóng dấu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
+ Hoàn trả cho bị cáo Bùi Văn Năm 01 điện thoại hiệu Nokia, Model 1280, màu đen, số Imel: 359777/04/6207513.
Đặc điểm vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng số: 07/BB-CCTHADS ngày 06/10/2022 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/10/2022)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; - VKSND TX. Phú Mỹ; - CCTHADS TX. Phú Mỹ; - Công an TX. Phú Mỹ ( 02 bản); - Phòng PV06- Công an tỉnh BR-VT - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Cường |