- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Lê V H – sinh năm 1990
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2022/HS-ST Ngày: 02/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
H đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các H thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Long
2. Ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký phiên toà:Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký TAND huyện T
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà:
Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2022/HSST ngày 12/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2022/QĐXX-HSST ngày 17/10/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/HSST-QĐ ngày 27/10/2022 đối với bị cáo:
LÊ V H, sinh năm 1990; ĐKHK và ở tại: Thôn 7, xã T, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; V hoá: 12/12; con ông Lê Văn H; con bà Nguyễn Thị M; Vợ là Phạm Thị H; có 03 con, sinh các năm 2016, 2018, 2019; Danh chỉ bản: 000000359, lập ngày 29/7/2022, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Ông Đình Minh O, sinh năm 1945 (đã tử vong); Đại diện cho người bị hại: anh Đình V K, sinh năm 1973; ĐKHK và trú tại: Đội 7 xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
*Người liên quan: Anh Nguyễn Trung V, sinh năm 1993; Trú tại: số 10, ngõ 12 L, phường T, quận B, Hà Nội. (vắng mặt)
*Người làm chứng: Anh Trần Văn H, sinh năm 1997; Trú tại: xóm 12 xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 05 ngày 17/3/2022, Lê Văn H điều khiển xe mô tô BKS: 14B3-000.14, phía sau xe chở anh Trần Văn H. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực đội 7, thôn Yên Kiện, N, T, Hà Nội theo hướng đường N đi đội 7 thôn N, lúc này, trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo, không trơn trượt, mật độ tham gia giao thông vắng, H điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 20 đến 25km/giờ. Trong khi đang điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, H đã dùng tay trái mở điện thoại để xem bản đồ trên ứng dụng “Google map” trên điện thoại và để lên tay lái bên trái của xe mô tô. Cùng lúc, H phát hiện thấy phía trước có ông Đình Minh Oản điều khiển xe đạp đi từ trong ngõ ra chuyển hướng từ pH qua trái (theo chiều di chuyển của H) và cách xe mô tô do H điều khiển khoảng 03 - 04 mét, H liền bóp phanh tay, đạp phanh chân và đánh lái sang trái để tránh nhưng do khoảng cách gần nên phần phía trước cung chắn bùn bánh trước xe mô tô do H điều khiển đã va chạm với khung kim loại chịu lực phía trên bên trái xe đạp khiến hai xe cùng đổ xuống đường, ông Oản bị ngã, đầu đập xuống mặt đường bất tỉnh. Sau va chạm, H đã cùng người dân đưa ông Oản đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp 1 rồi quay lại hiện trường để chờ Cơ quan công an đến giải quyết vụ việc. Đối với ông Oản do thương tích nặng nên gia đình đã xin Bệnh viện đưa ông Oản về nhà riêng, đến khoảng 09 giờ ngày 18/3/2022, ông Oản tử vong.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10h40 phút ngày 17/03/2022 tại đường liên thôn Đội 7 N, xã N, T, Hà Nội thể hiện:
Hiện trường xảy ra tai nạn là đường liên thôn, 02 chiều rải nhựa bằng phẳng rộng 05m20, ngõ giáp với công ty TNHH CANTAKE, rộng 02m, thuộc đội 7, xã N, T, Hà Nội. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu, hai phương tiện liên quan đã được đưa sát vào lề đường, không đánh dấu vị trí. Điểm mốc là mép đường bên trái ngõ giáp Công ty TNHH CANTAKE theo hướng từ trong ra ngoài. Mép đường chuẩn là mép đường bên trái đường liên thôn đội 7, N theo hướng từ đường N đi vào đội 7.
- Xe đạp dựng trên đường liên thôn đội 7, xã N theo hướng đường N đi đội 7; tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 4m50, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 4m50, đo về phía hướng đường N đến tâm trục bánh sau xe mô tô là 5m40.
- Xe mô tô BKS: 14B3-00014 dựng trên đường liên thôn đội 7 N theo hướng đi đội 7 N đi đường N; tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0m60, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0m50, đo về hướng đường N đến cuối vết cày là 01m40.
- Vết cày dài 1m60 nằm trên đường liên thôn đội 7 N; cuối vết cày cách mép đường chuẩn 1m50; đầu vết cày cách mép đường chuẩn 1m60, đo về hướng đường N đến điểm mốc là 1m40.
Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô BKS: 14B3-00014 thể hiện:
-Mặt ngoài của chắn bùn phía trước để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt, xước sơn. Trên điểm va chạm để lại chất màu xanh, đỏ dạng sơn. Không xác định rõ chiều hướng của dấu vết. Vết có kích thước 8x6cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 55cm.
-Mặt ngoài của lốp xe phía trước bên trái để lại vết va chạm làm sạch bụi đất bám dính. Trên điểm va chạm để lại chất màu xanh dạng sơn, chất màu vàng gỉ sắt, vết có kích thước 6x2cm, ngược với chiều chuyển động tiến của bánh xe. Điểm gần nhất của vết va chạm cách chữ “C” trong hàng chữ “70/90-17M/C” là 02 cm.
-Mặt ngoài của yếm chắn gió phía trước bên trái để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt. Vết có chiều từ trước về sau, trên điểm va chạm để lại chất màu xanh dạng sơn. Vết có kích thước 10x01cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 64 cm.
-Mặt ngoài của ốp nhựa đầu xe, đèn xi nhan bên trái và tay cầm lái bên trái để lại vết va chạm làm trượt xước đa dạng trên bề mặt. Trên điểm va chạm để lại chất màu xanh dạng sơn, chất màu vàng dạng gỉ sắt. Vết có kích thước trên diện 35x18 cm không xác định rõ chiều hướng của vết. Điểm thấp nhất cách mặt đất 91 cm.
-Mặt ngoài của gương chiếu hậu bên trái, cần gạt số và bàn để chân người lái bên trái để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt, lộ ánh kim. Nghi vấn va chạm với mặt đường, vết có kích thước 16x95 cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 15 cm.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện đối với xe đạp thể hiện:
-Mặt ngoài của cổ phốt xe để lại vết va chạm làm sạch bề mặt, bay lớp gỉ sắt bám dính. Trên điểm va chạm để lại chất màu đen. Vết có chiều từ trước về sau. Vết có kích thước trên diện 14x12 cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 65 cm.
-Mặt ngoài của trục xe phía trước để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt. Trên điểm va chạm để lại chất màu trắng, dạng sơn. Vết có kích thước 0,5x0,5cm. Không xác định rõ chiều hướng của vết. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 24 cm.
-Mặt ngoài của càng xe phía trước bên trái để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt, gãy sắt càng xe. Vết có chiều từ trước về sau. Vết có kích thước 05x01cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 35 cm.
-Mặt ngoài của ghi đông xe đạp để lại vết va chạm làm trượt xước bề mặt. Trên điểm va chạm để lại chất màu trắng, dạng sơn. Vết có chiều từ trước về sau. Vết có kích thước 11x2cm. Điểm thấp nhất của vết cách mặt đất 46 cm.
Ngày 04/04/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định xác định dấu vết va chạm, vị trí va chạm đầu tiên, cơ chế hình thành dấu vết, xác định tốc độ của các phương tiện ngay trước khi xảy ra va chạm trong vụ việc nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 2061/KL-KTHS ngày 18/4/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) ở mặt ngoài phía trước cung chắn bùn bánh trước xe mô tô biển số 14B3-000.14 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, mất sơn màu xanh ở mặt ngoài khung kim loại chịu lực phía trên bên trái xe đạp. Dấu vết va chạm ở xe đạp nêu trên tại vị trí này có chiều trái sang pH.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 14B3-000.14 và xe đạp: Phía trước cung chắn bùn bánh trước xe mô tô biển số 14B3-000.14 và khung kim loại chịu lực phía trên bên trái xe đạp.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 14B3-000.14 và xe đạp trước khi xảy ra va chạm theo dấu vết phanh.
Ngày 18/03/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 250 trưng cầu Tiến sỹ, Bác sỹ Lưu Sỹ H, Thạc sỹ, bác sỹ Nguyễn Mạnh H – Giám định viên YPTW – Bệnh viện Việt Đức giám định nguyên nhân tử vong qua hồ sơ đối với ông Đình Minh O.
Tại bản giám định pháp y – trên hồ sơ số 11/22/GĐPY ngày 30/03/2022 của Bệnh viện hữu nghị Việt Đức thể hiện: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Đình Minh Oản 77 tuổi do chấn thương sọ não nặng. Không phát hiện có Ehtanol và các chất gây nghiện trong mẫu máu nạn nhân.
Quá trình rà soát camera xung quanh hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã thu giữ được 01 USB bên trong chứa dữ liệu 01 tệp video ghi nhận diễn biến vụ TNGT nói trên. Ngày 05/04/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 tệp video trên.
Tại bản kết luận giám định số 2145 ngày 27/4/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video gửi giám định.
Quá trình điều tra, Lê V H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của H phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập được.
Sau khi tai nạn xảy ra, Lê V H đã tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho gia đình người bị hại. Đại diện gia đình người bị hại theo ủy quyền là anh Đình Văn K (con trai của ông O) đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn H.
Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 14B3-000.14 thu giữ của Lê Văn H, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Trung V, sinh năm: 1993; Chỗ ở: Thành Công, Ba Đình, Hà Nội. Ngày 05/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại cho anh V chiếc xe nêu trên, anh V đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.
Đối với 01 chiếc xe đạp thu giữ của ông Đình Minh O, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông O. Ngày 05/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trao trả chiếc xe đạp trên cho anh Đình V K, anh K đã nhận xe và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKS-TT ngày 11/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 166/CT-VKS-TT ngày 11/10/2022 và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 12(mười hai) tháng đến 15(mười lăm) tháng tù. Vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản hiện trường, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 05' ngày 17/3/2022, tại đường liên thôn, thuộc đội 7, N, T, Hà Nội, Lê Văn H (có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ) điều khiển xe mô tô BKS: 14B3-000.14 đi ở giữa đường theo hướng đường N đi đội 7 thôn N. Trong khi tham gia giao thông, H điều khiển xe mô tô vừa đi vừa xem điện thoại và không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình, thiếu chú ý quan sát là vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, khoản 7 điều 5 nghị định 100/2019/NĐ-CP dẫn đến va chạm với xe đạp do ông Đình Minh O điều khiển đang đi từ trong ngõ ra và chuyển hướng từ pH qua trái. Hậu quả, ông O bị thương đi cấp cứu tại bệnh viện Nông nghiệp 1, đến ngày 18/03/2022, ông O tử vong.
Hành vi của Lê V H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại. Đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo Lê Văn H, sinh năm 1990, bị cáo đã được cấp bằng lái xe mô tô hợp lệ, như vậy, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đòi hỏi phải hết sức cẩn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên do chủ quan cẩu thả, bị cáo đã sử dụng điện thoại khi đang điều khiển xe mô tô và không chú ý quan sát dẫn đến va vào xe của người bị hại, gây hậu quả chết người. Đây là lỗi của bị cáo dẫn đến tai nạn giao thông. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác khi tham gia giao thông, xâm hại đến trật tự an toàn xã H. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã H một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đáp ứng công tác răn đe phòng ngừa. Khi lượng hình, H đồng xét xử có xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, người bị hại có một phần lỗi khi tham gia giao thông, chuyển hướng không đảm bảo an toàn vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Sau khi xẩy ra tai nạn, bị cáo đã chủ động cứu giúp người bị hại, đưa đi cấp cứu. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy cần thiết cấm bị cáo điều khiển xe mô tô trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tang vật vụ án và án phí: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 14B3-000.14 đã trao trả lại cho chủ tài sản là anh Nguyễn Trung V; chiếc xe đạp đã trao trả gia đình người bị hại do anh Đình V K đại diện. Các chủ sở hữu tài sản không có ý kiến, yêu cầu gì về dân sự nên không xét. Về bồi thường dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong, gia đình người bị hại không yêu cầu gì khác nên không xét. Đối với giấy phép lái xe của bị cáo là hợp lệ nên trả lại cho bị cáo. Bị cáo pH nộp án phí hình sự. Bị cáo, đại diện người bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Lê V H – sinh năm 1990
Phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ: điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Văn H 15(Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, hạn tù kể từ ngày bắt thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Cấm Lê Văn H điều khiển xe mô tô trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
Xử lý vật chứng: Trả cho Lê Văn H Giấy phép lái xe hạng A1 số AG116807 cấp ngày 15/8/2008 mang tên Lê Văn H hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/10/2022.
Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận bản án: - Bị cáo; đại diện bị hại, người liên quan; - TAND TP Hà Nội; - VKSND Hà Nội + VKSND T; - Sở Tư pháp HN; - Công an huyện T; - Chi cục THA DS huyện T; - UBND xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |