- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2022/DS-ST Ngày: 15-7-2022 V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Tiến;
2. Bà Mai Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2022 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 201/2021/TLST-DS ngày 16/12/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2022/QĐXXST-DS ngày 23/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2022/QĐST-DS ngày 16/6/2022, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; trụ sở tại 266 – 268 NN,
Phường TX, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991; hộ
khẩu thường trú tại: VV, TT, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2020). (Có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Bùi Ngọc Q, sinh năm 1980; Địa chỉ: 6/5 Đ, Phường LL, quận X,
Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa, người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là ngân hàng), ông Nguyễn Ngọc M trình bày:
Ông Lê Bùi Ngọc Q (bị đơn) có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2007
và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 12/6/2007 với Ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Q, ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 11.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, phía bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số
tiền là 10.079.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Q đã không thanh toán cho ngân hàng. Mặc dù đã làm việc, nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Q vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên vào ngày 01/7/2008, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang dư nợ quá hạn.
Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền gốc và lãi tạm tính đến
ngày 28/4/2022 như sau:
- Nợ gốc:
17.135.586 đồng;
- Nợ lãi:
92.785.021 đồng;
Tổng cộng: 109.920.607 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu nên Ngân hàng yêu cầu thanh toán số
nợ còn thiếu nói trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc
giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, giấy triệu tập lên tòa tự khai, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn - ông Lê Bùi Ngọc Q vẫn vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến tranh chấp.
Tại phiên toà,
Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông Q trả ngay số tiền
còn thiếu là 111.658.156 đồng, bao gồm nợ gốc là 17.135.586 đồng và nợ lãi tạm tính tới ngày 15/7/2022 là 94.522.570 đồng.
Bị đơn - ông Q vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu: Việc chấp hành pháp
luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa. Về việc giải quyết vụ án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn
cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện
yêu cầu ông Lê Bùi Ngọc Q trả các khoản tiền còn thiếu theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2007 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 12/6/2007. Đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Q có địa chỉ cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn - ông Lê Bùi Ngọc Q mặc dù đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn
thiếu theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng là 111.658.156 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2007 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 12/6/2007 thì bị đơn có yêu cầu nguyên đơn cấp thẻ tín dụng với hạn mức 11.000.000 đồng. Căn cứ vào bản tóm tắt sao kê ngày 15/7/2022 và các công văn nhắc nợ thì bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền 111.658.156 đồng (gồm cả gốc và lãi). Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, bị đơn đã biết về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến tranh chấp hay phản đối gì. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 111.658.156 đồng (trong đó nợ gốc là: 17.135.586 đồng, nợ lãi là: 94.522.570 đồng). Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả toàn bộ số công nợ còn thiếu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Về thời hạn thanh toán, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả một lần toàn bộ công nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 111.658.156 đồng phải trả cho nguyên đơn nên án phí bị đơn phải chịu là 5.582.908 đồng.
Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b
khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần
S:
Ông Lê Bùi Ngọc Q có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số
tiền là 111.658.156 (Một trăm mười một triệu, sáu trăm năm mươi tám ngàn, một trăm năm mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc là 17.135.586 (Mười bảy triệu một trăm ba mươi lăm ngàn năm trăm tám mươi sáu) đồng, nợ lãi tính đến ngày 15/7/2022 là 94.522.570 (Chín mươi bốn triệu, năm trăm hai mươi hai ngàn, năm trăm bảy mươi) đồng.
Phương thức thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Lê Bùi Ngọc Q phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn quy
định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 01/6/2007 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 12/6/2007 đã ký cho đến khi trả dứt nợ.
2. Về án phí: Ông Lê Bùi Ngọc Q phải chịu án phí sơ thẩm là 5.582.908 (Năm triệu
năm trăm tám mươi hai ngàn chín trăm lẻ tám) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
2.523.000 (Hai triệu năm trăm hai mươi ba ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0030593 ngày 25/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS ND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q.Tân Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |