- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhận và gia đình giữa ông Vũ Văn D và bà Nguyễn Thị Y"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Vũ Văn D, xử cho ông Vũ Văn D được ly hôn bà Nguyễn Thị Y.
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn vợ chồng; luật bảo vệ; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 180/2021/HNGĐ-ST Ngày 22 - 6 - 2021 V/v :“Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tường Duy Bình.
Bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 175/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1958, Trú tại: Bản TN, xã ĐS, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1956; Trú tại: Bản TN, xã ĐS, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/4/2021, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Vũ Văn D trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Y chung sống tự nguyện như vợ chồng với nhau từ đầu năm 1986 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó vợ chồng về sống và xây dựng gia đình tại Bản TN, xã ĐS, huyện Mộc Châu chung sống hòa thuận đến năm 2005 thì bà Y bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 20 năm tù. Đến ngày 19/10/2020 bà Y chấp hành án trở về địa phương, vì bà Y đi chấp hành án quá lâu nên ông và Y không còn tình cảm với nhau, không ai quan tâm chăm sóc, chia sẻ, vợ chồng thường xuyên cãi cự nhau, mẫu thuẫn của vợ chồng đã được chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả, nay xét tình cảm không còn ông yêu cầu được ly hôn bà Y.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung: Cháu Vũ Thị Hương, sinh năm 1988, Cháu Vũ Thị Nhung, sinh năm 1993, nay các cháu đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà Nguyễn Thị Y đã tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y quá trình tố tụng và tại phiên tòa trình bày: Về quan hệ hôn nhân bà đồng ý với ông D trình bày nhưng về mâu thuẫn vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì vì Bà bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và và bị xử phạt 20 năm tù, đến năm 2020 Bà mãn hạn tù về địa phương về chung sống với ông D thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông D có tình cảm với người phụ nữ khác, mặc dù giữa Bà và ông D không còn tình cảm với nhau nhưng Bà và ông D tuổi đã cao dù hết tình cảm nhưng vẫn còn tình nghĩa nên bà không đồng ý ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, vay nợ chung: Bà đồng ý như ông D trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 57 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Vũ Văn D và bà Nguyễn Thị Y ly hôn.
- Về con chung: Các con đã trưởng thành đã xây dựng gia đình nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí cho ông D theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Vụ việc theo yêu cầu xin ly hôn của ông Vũ Văn D và được Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, ông Vũ Văn D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Y. Xét yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Vũ Văn D và bà Nguyễn Thị Y chung sống tự nguyện với nhau từ đầu năm 1986 cho đến nay và không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, ông D và bà Y chung sống với nhau như vợ chồng trước 03/01/1987, căn cứ điểm a mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ- QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì được coi là hôn nhân thực tế và hợp pháp được luật bảo vệ.
Quá trình chung sống trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa thấy: Trong thời gian chung sống ông D và bà Y sống hạnh phúc với nhau đến năm 2005 do bà Y bị bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị xử phạt 20 năm tù khi mãn hạn tù trở về địa phương (19/10/2020) thì hai ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bà đi cải tạo quá lâu nay ông bà đều khẳng định không còn tình cảm với nhau, theo xác minh tại địa phương vợ chồng ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn mặc dù đã được chính quyền hòa giải nhưng cuộc sống vợ chồng không cải thiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa ông D và bà Y không còn. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc ông D xin ly hôn bà Y là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của ông D được ly hôn bà Y.
Về con chung: Ông D, bà Y có hai con chung Vũ Thị Hương, sinh năm 1988 và Vũ Thị Nhung, sinh năm 1993 hiện nay đã thưởng thành và xây dựng gia đình riêng nên Hội đồng xét xử không đặt vẫn đề xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Ông Vũ Văn D là người cao tuổi và có đơn xin được miễn án phí, do đó Hội đồng xét xử miễn án phí cho ông theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 232 và Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 57 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Vũ Văn D, xử cho ông Vũ Văn D được ly hôn bà Nguyễn Thị Y.
2/. Về án phí: Ông Vũ Văn D được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3/.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/6/2021).
| Nơi nhận: - Tòa án Tỉnh; - Viện kiểm sát huyện; - THADS; - Các đương sự; - UBND xã Đông Sang; - Lưu hồ sơ - Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tƣờng Duy Bình Cầm Thị Đoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh Đèo Văn Quỳnh |