vanban.org

Bản án 180/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS, xử phạt Lê Quang H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang H phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2020/HSST
Ngày 20/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quảng Thái

2. Ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái

Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2020/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Quang H, tên gọi khác: không. Sinh ngày 06/7/1991. HKTT: Tổ 14,

phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Tr, đã chết và con bà Hoàng Thị T; Vợ Nguyễn Thị N, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Quyết định số 182/QĐ-XPHC ngày 22/5/2008, Công an phường

Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên xử phạt 75.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp phạt ngày 01/8/2008.

+ Tại bản án số 130/2009/HSTT ngày 12/5/2009 của Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 54 tháng thử thách về tội “Cướp giật tài sản”. Đã nộp án phí ngày 07/9/2011.

+ Tại bản án số 272/2011/HSST ngày 10/8/2011của Tòa án nhân dân thành

phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù (chuyển án treo thành tù giam) của Bản án 130/2009/HSTT ngày 12/5/2009. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 78 tháng tù giam. Ra trại ngày 02/10/2015. Đã nộp án phí ngày 23/5/2017.

Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh

Thái Nguyên từ ngày 30/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị L, sinh năm 1955.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trú tại: Tổ 11, phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

* Người làm chứng:Anh Nguyễn Việt D, sinh năm 1983. Vắng mặt.

Trú tại: Tổ 11, phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến:

1. Anh Hoàng Đ, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Trú tại: tổ 39, phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1955. Vắng mặt.

Đều trú tại: tổ 11, phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2019, tổ Công tác của Công an phường P,

thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 11 của phường đã phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Lê Quang H. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần bên trái phía trước H đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. H khai Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Ngoài ta, tổ công tác còn thu giữ của H: 01 xe máy điện BKS: 20MĐ1- 03982, số khung: 653621312811648, số máy: 1404CZ00801S6; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, màu xám, số IMIE: 355862/01/745190/1, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh dương, số IMIE: 358957/01/339830/9, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màn hình cảm ứng, màu vàng, đã qua sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã

tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Lê Quang H có khối lượng 0,126 gam. Tại bản Kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lê Quang H là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,126 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Quang H khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày

30/12/2019, Hiền đi đến khu vực Vincom Thái Nguyên, thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, H gặp và mua của 01 nam thanh niên không quen biết, qua giao dịch H mua của nam thanh niên đó 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine H mang về nhà sử dụng một phần, phần còn lại H gói lại bằng giấy bạc màu vàng rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 16 giờ ngày 30/12/2019, H đi xe máy điện BKS: 20MĐ1- 03982 từ nhà đến nhà anh Nguyễn Việt D (sinh năm 1983, cư trú: tổ 11, phường P, thành phố TN) với mục đích trả xe đạp điện. Khi đến khu vực tổ 11, phường P, thành phố TN thì bị tổ công tác Công an phường P, thành phố TN kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 xe máy điện BKS: 20MĐ1- 03982, số khung:

653621312811648, số máy: 1404CZ00801S6. Qua điều tra xác định chiếc xe trên là của bà Đinh Thị L (sinh năm 1955, trú tại: tổ 11, phường P, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên ) là mẹ của anh Nguyễn Việt D. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lan là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng. 01 bì niêm phong kí hiệu H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, màu xám. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh dương, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màn hình cảm ứng, màu vàng, đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKSNDTPTN, ngày 26/3/2020 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Quang H khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo

trạng đã mô tả. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51

BLHS, xử phạt bị cáo Lê Quang H từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu

hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H. Tạm giữ 03 điện thoại của Hiền (trong đó 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh dương, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màn hình cảm ứng, màu vàng, đã qua sử dụng.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị

cáonhận thấy hành vi của mình gây ra là vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan

điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người

phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2019, tại khu vực tổ 11, phường P, thành

phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Lê Quang H có hành vi tàng trữ 0,126 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội cướp giật tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm gương mà vẫn tiếp tục phạm tội điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải bị xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không

có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

. Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu H cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định không liên quan đến vụ án nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền

kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Lê Quang H khai mua của người đàn

ông, không quen biết tại tại khu vực Vincom thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với anh Nguyễn Việt D, là người cho Lê Quang H mượn 01 xe máy

điện BKS: 20MĐ1- 03982 (xe của bà Đinh Thị L mẹ anh D) nhưng anh D không biết việc Hiền sử dụng chiếc xe vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Lan đồng thời không xử lý đối với Dũng là có căn cứ.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản

1 Điều 51BLHS, xử phạt Lê Quang H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày

tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H ( bên trong chứa ma túy

mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu H), mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký ghi tên Nguyễn Thành Trung.

Tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, màu xám, số IMIE:

355862/01/745190/1, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh dương, số IMIE: 358957/01/339830/9, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MI, màn hình cảm ứng, màu vàng, đã qua sử dụng của bị cáo Hiền để đảm bảo việc thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 257ngày

20/4/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho

biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ