vanban.org

Bản án 180/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 02/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 20( hai mƣơi) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt bổ sung : Miễn phạt tiền cho bị cáo. Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa 0,287 gam heroin ; Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei: 352877106115459 và 70.000 đồng. ( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 20( hai mƣơi) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2020/HS - ST
Ngày: 02/07/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Trần Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Bà Trần Thị Minh

2. Bà Nguyễn Thị Doãn Thành

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc

- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai

Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Hương- Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 195/2020/HSST ngày 16/06/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2020/QĐXXST - HS ngày 17/06/2020 đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh năm 1979; HKTT: Xóm 8 xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Không nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn L (sinh năm 1953) và Đoàn Thị N (sinh năm 1955); Có vợ là: Lê Thị H (sinh năm 1979), có 01 con sinh năm 2012; Nhân thân: 01 tiền án:

- Bản án số 353/2009/HSST ngày 16/6/2009 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 18/03/2009. Ra trại ngày 18/11/2010 (Đã xóa án tích). Tạm giam: 16/3/2020

Danh chỉ bản số 347 lập ngày 19/03/2020 tại Công an quận Hoàng Mai; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an TP Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18h00' ngày 16/3/2020, tại khu vực cuối ngõ 1277 đường Giải Phóng, tổ 10 phường TLiệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội, tổ công tác CAP TLiệt làm nhiệm vụ phát hiện, kiểm tra bắt quả tang Phan Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của T01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy màu trắng, kích thước (1x1)cm bên trong chứa cục chất bột màu trắng. Tại chỗ, Tkhai là heroine mua về để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của T01 điện thoại Nokia màu đen, số imei: 352877106115459, đã qua sử dụng và số tiền 70.000 đồng. (BL 22-23, 25) Ngày 25/3/2020, Phòng kỹ thuật hình sự công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,287 gam. (BL 31) Tại cơ quan điều tra, Phan Văn T khai nhận: Khoảng 16h15' ngày 16/3/2020, Tđi xe khách từ Nam Định lên Hà Nội, sau đó thuê xe ôm di từ khu vực Toyota Pháp Vân, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, đến khu vực Giáp Bát. Trên đưong di, người xe ôm rủ Tchung tiến mua ma túy để sử dụng. Tđồng ý và đưa cho người này 100.000 đồng. Sau đó, người xe ôm chở Tđến khu vực ngã ba đợi (Tkhông biết là ngã ba nào do Tkhông biết đường) còn người xe ôm đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, Tvà người xe ôm cùng nhau sử dụng một ít ở bụi cây gần đó, số ma túy còn lại, ngưoi xe ôm gói vào giấy màu trắng bỏ vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long và đưa cho Tcầm. Sau đó người này cho Tđến khu vực cuối ngõ 1277 Giải Phóng và đi có việc. Khi Tđang đứng doi người xe ôm thì bị tổ công tác công an phường TLiệt phát hiện bắt giữ cùng tang vật. (BL 62-63) Đối với đối tượng xe ôm chung tiền mua ma túy với Thịnh, cơ quan tiến hành dẫn giải Tđi xác định được địa điểm gặp người này tại khu vực gần Toyota Pháp Vân, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội, nhưng không xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý. (BL 33)

Bản cáo trạng số 202/CT - VKS ngày 10/06/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Phan Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 , điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo mức án từ 20 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 0,287 gam heroin; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen và 70.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 ngày 16/3/2020, tại khu vực cuối ngõ 1277 đường Giải Phóng, tổ 10 phường TLiệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Phan Văn T có hành vi tàng trữ 0,287 gam heroin với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

Về nhân thân bị cáo có 01 tiền án năm 2009 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiền án này đã xóa nhưng cũng chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu, đã được pháp luật giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung của bị cáo: Không có tình tiết tăng nặng. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét việc bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án và các vấn đề khác:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa 0,287 gam heroin ; Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 70.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51 ; điểm c khoản 1 Điều 47; điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ: Điều 106, điều 136; điều 331; điều 333 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tóa án; Mục 1 phần I Danh mục án phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 20( hai mƣơi) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2020.

Hình phạt bổ sung : Miễn phạt tiền cho bị cáo.

Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa 0,287 gam heroin ; Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei: 352877106115459 và 70.000 đồng. ( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2020-238 ngày 10/6/2020 và giấy nộp tiền ngày 08/6/2020 tại Kho bạc nhà nước quận Hoàng Mai )

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ