vanban.org

Bản án 180/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 05/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh H, Hồ thị L; giữ nguyên Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh hóa về hình phạt đối với các bị cáo H, L.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh K; sửa Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh hóa về hình phạt đối với bị cáo K. *Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 56 của BLHS… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh H + ĐP phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh H, Hồ thị L; giữ nguyên Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh hóa về hình phạt đối với các bị cáo H, L.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180 /2019/HSPT
Ngày: 05/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Quách Văn Thành

Ông Trương Quốc Văn

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2019/TLPT-HS ngày 11/6/2019 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh H và các đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo có kháng cáo:

1.Nguyễn Thị Thanh H - Sinh năm1977

Nơi cư trú: Số nhà 36 Tống Duy Tân, phường L S, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hóa 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Thách (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lan; có chồng là Nguyễn Hồng Mạnh ( đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh 2006, con nhỏ sinh 2015; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 22/5/2014 Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 6.000.000đ; bị cáo tại ngoại, vắng mặt.

2.Hồ Thị L - Sinh năm 1974 (tên gọi khác: Hiền)

Nơi ĐKNKTT: Số nhà 08B Ngô Từ, phường L S, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Số 03/1 Tống Duy Tân, phường L S, thành phố Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Hồ Trọng Thảo và bà Trần Thị Dục; có chồng là Nguyễn Kim Mạnh (đã chết); có 02 con; con lớn sinh 1993, con nhỏ sinh 1996; tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/10/1998 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 20.000.000đ; đến ngày 08/10/2009 được miễn số tiền phạt trên.

Tiền án: Ngày 09/8/1999 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 20.000.000đ; bị cáo tại ngoại, có mặt.

3.Trần Minh K - Sinh năm 1979

Nơi cư trú: Số nhà 200 phố Quan Sơn, phường A H, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần Ngọc Khang và bà Lê Thị Cừ; có vợ là Nguyễn Thị Dung và có 2 con; con lớn sinh 2007, con nhỏ sinh 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/02/2011 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Các bị cáo không kháng cáo: Phạm Văn H, Phạm Thị V, Lê Thị S, Trần Thị H, Trần Thị T, Nguyễn Đình B, Trần Hồng Đ, Ninh Thế H, Nguyễn Lê T, Lê Trọng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khu vực sân của gia đình bà Phạm Thị Thảo ở số nhà 17 Ngô Từ, phường L S, thành phố Thanh Hóa là khu đất rộng, không có người ở. Vào các ngày lễ, tết hàng năm, khu vực này thường tụ tập rất đông người đến để đánh bạc. Thấy các đối tượng đã tập trung đánh bạc ở đây nhiều lần nhưng không việc gì, nên vào ngày 18/02/2018 (tức là ngày 03 tết âm lịch), Phạm Văn H đã chuẩn bị điện sáng, bát, đĩa, chiếu để các đối tượng tập trung đánh bạc, thu tiền hồ. Thời gian các đối tượng đánh bạc từ khi nào không xác định được nhưng vào khoảng 15h30’có khoảng 20 đối tượng đến tham gia đánh bạc.

Trong quá trình chơi có người đứng, có người ngồi thành một vòng tròn. Lúc đầu Trần Minh K là người sóc cái, khi Nguyễn Lê T đến thì K chuyển cho T sóc cái rồi K tham gia đánh bạc cùng các đối tượng khác. T ngồi giữa sát tường; kế tiếp bên phía tay phải T là những người tham gia đánh bạc gồm: S, B, Thu, T, H, V, Đ, L, H, K, H, H và một số người đi qua thấy có đông người đang đánh bạc cũng tham gia chơi. Trong lúc tất cả mọi người đang đánh bạc thì Phạm Văn H đến nói “Mỗi người cho xin 100.000đ tiền công chuẩn bị chiếu, bát, đĩa và thắp điện”. Sau khi nghe H nói, T lấy 100.000đ ở dưới chiếu đưa cho H.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi Nguyễn Lê T đang sóc cái cho các con bạc đánh bạc thì bị Công an tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang 11 đối tượng gồm: Nguyễn Thanh H, Lê Thị S, Phạm Thị V, Phạm Thị Thu, Nguyễn Đình B, Nguyễn Trọng Đôi, Trần Thị H, Trần Thị T, Nguyễn Trọng Bình, Đỗ Thị Thu và Trần Hồng Đ, còn một số đối tượng lợi dụng sở hở khi bắt đã bỏ chạy. Thu giữ tại chiếu bạc: 04 con xóc hình tròn, 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 01 chiếc chiếu tre; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 25.300.000đ.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận hình thức đánh xóc đĩa như sau: Dùng 4 con vị được cắt ra từ vỏ bao thuốc lá, một bên là mặt màu trắng, một bên là mặt màu vàng, sau đó bỏ vào bát sứ, dùng đĩa đậy lại rồi sóc vài cái nhằm mục đích cho các con vị đảo lộn sau đó gọi các con bạc đặt tiền, tự lựa chọn đặt bên chẳn hoặc bên lẽ, mức thấp nhất là 50.000đ. Nếu khi kết thúc ván bạc (mở bát). Nếu hai mặt sóc màu trắng, hai mặt sóc màu vàng hoặc bốn con sóc màu trắng hoặc bốn con sóc vàng cả thì gọi là chẳn nếu ai đặt bên chẳn thì ăn bên lẻ thua. Còn nếu một con sóc màu trắng, ba con sóc màu đỏ hoặc một con sóc màu đỏ, ba con sóc màu trắng thì gọi là lẽ ai đặt bên lẻ thì ăn, bên chẳn thua; tỉ lệ thắng thua là 1:1 (tức là đặt bao nhiêu tiền thì thắng hoặc thua số tiền tương ứng). Người xóc cái đồng thời là người cân tiền; quá trình chơi người cầm cái có thể bán ván chơi đó cho người khác.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi cụ thể như sau:

- Trần Hồng Đ khai: Khoảng 20h ngày 18/02/2018 trên đường đi về nhà khi đi đến số nhà 17 Ngô Từ, phường L S thấy có rất đông người đang đánh bạc, Đ vào xem một lúc, sau đó lấy 100.000đ trong túi quần đặt xuống chiếu đánh bạc thì bị thua; đang chuẩn bị ra về thì bị Công an tỉnh Thanh Hóa đến bắt.

- Ninh Thế H khai nhận: Khoảng 16h ngày 18/02/2018, khi đi qua số nhà 17 Ngô Từ, phường L S thấy có khoảng 20 người đang tụ tập ở bãi đất trống đánh bạc. H dùng số tiền 150.000đ bỏ xuống chiếu đánh bạc, đánh được 02 ván thì thua hết.

- Phạm Thị Thu khai nhận: Khoảng 20h45’ ngày 18/02/2018 đi đến số nhà 17 Ngô Từ, phường L S thấy có rất đông người đang đánh bạc băng hình thức sóc đĩa, Thu dùng 100.000đ thả diều bên lẽ thì bị thua, đang tiếp tục chơi thì bị Công an tỉnh Thanh Hóa đến bắt quả tang.

- Lê Trọng H khai nhận: Khoảng 15h30’ ngày 18/02/2018 đi đến số nhà 17 Ngô Từ, phường L S, thấy anh K đang sóc cái cho khoảng 20 người người đang đánh bạc bằng hình thức đánh sóc đĩa, đứng xem một lúc H về. Đến khoảng 19h cùng ngày H đang ở nhà thì anh T (Tý) gọi điện hỏi vay tiền, H đồng ý cầm tiền đến số nhà 17 Ngô Từ cho T vay; thấy anh T đang sóc cái cho mọi người đánh bạc, H ngồi phía sau T dùng số tiền 200.000đ bỏ xuống chiếu tham gia đánh bạc 02 ván thì bị thua hết, sau đó H ra về .

- Nguyễn Đình B khai nhận: Khoảng 19h45’ ngày 18/02/2018 đi qua số nhà 17 Ngô Từ, phường L S, thành phố Thanh Hóa thấy có khoảng 30 người đang đánh bạc. Khi vào chơi B mang theo 20.000.000đ, mới đánh được 02 ván, mỗi ván 100.000đ đang tiếp tục chới thì bị Công an tỉnh Thanh Hóa đến bắt quả tang, B vứt toàn bộ số tiền xuống chiếu.

- Nguyễn Thị Thanh H khai: Vào khoảng 20h30’ ngày 18/02/2018, dẫn con trai khoảng 3 tuổi đi tìm chồng; khi đi qua số nhà 17 Ngô Từ, phường L S thấy có khoảng 20 – 30 người đang đánh bạc, H vào ngó nghiêng một lúc không thấy chồng ở đâu thấy mọi người xô nhau chạy, H ôm lấy con đi ra ngoài, khi đi đến cổng thì bị công an đến bắt .

- Trần Thị T khai nhận: Khoảng 20h30 ngày 18/02/2018 đi qua số nhà 17 Ngô Từ, phường L S thấy có khoảng 20 – 30 người đang đánh bạc; T vào cùng tham gia chơi cùng. Khi tham gia đánh bạc T có 400.000đ, mới đánh được 02 ván mỗi ván 100.000đ bị thua, đang tiếp tục đánh thì bị Công an đến bắt quả tang.

- Lê Thị S khai nhận: Khoảng 20h ngày 18/02/2018, S dọn hàng đem vào sân nhà chị Thảo để gửi, thấy có khoảng 20 đang đánh bạc, S đứng xem thì phía sau có người đưa 200.000đ nhờ thả diều, S đồng ý cầm tiền thả xuống chiếu, khi Công an đến bắt vì hoang mang nên đã bỏ số tiền 1.300.000đ xuống chiếu bạc bị Công an thu giữ .

- Phạm Văn H khai: Vào ngày 18/02/2018 thấy có nhóm người đang đánh bạc trong sân nhà 17 Ngô Từ; H đứng ngoài cửa sắt xem, không tham gia thu tiền hồ của ai cả. Tuy nhiên tại phiên tòa, Phạm Văn H khai bản thân bị cáo là người chuẩn bị chiếu, bát, đĩa và điện sáng để các con bạc đánh bạc, bị cáo sẽ thu tiền hồ mỗi người từ 50.000đ đến 100.000đ, nhưng ngày 18/02/2019 mới có một người ( Bị cáo không nhớ ai đã đưa cho bị cáo) số tiền 100.000đ, số còn lại chưa đưa cho bị cáo vì đã bị Công an phát hiện bắt giữ.

- Nguyễn Lê T khai: Khoảng 17h ngày 18/02/2018, đi qua đường Ngô Từ, phường L S, thấy có rất đông người đang đánh bạc, T đứng xem một lúc sau đó ra về. Đến 19h cùng ngày T quay lại thấy mọi người vẫn đang tiếp tục đánh bạc, T vào sóc cái thay cho K, khi T đang sóc cái cho các con bạc chơi thì bị Công an đến bắt quả tang.

- Hồ Thị L khai: Khoảng 20h ngày 18/02/2018 đến gần cổng số nhà 17 Ngô Từ, phường L S gọi con là Nguyễn Kim Giang ( Tức Bờm) về ăn cơm, không tham gia đánh bạc. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo L cho rằng bản thân có tham gia thả diều 01 ván với số tiền 50.000đ rồi bị cáo về, tại cơ quan điều tra bị cáo khai không tham gia đánh bạc vì bị cáo nhận thức là do bị cáo đánh có một ván với số tiền 50.000đ, bị cáo cũng không bị bắt quả tang, nên bị cáo mới không nhận tội. Nay bị cáo công nhận có tham gia đánh bạc ngày 18/02/2018 và bị Viện kiểm sát truy tố về tội “ Đánh bạc” là đúng.

- Trần Thị H khai nhận: Khoảng 18h30’ ngày 18/02/2018 chị T rủ đến số nhà 17 Ngô Từ, phường L S để đánh bạc, xuống đến nơi thấy chiếu bạc có khoảng 20 – 30 người đang chơi; khi đi mang theo 200.000đ, đang đánh bạc thì bị Công an đến bắt quả tang.

- Phạm Thị V khai nhận: Khoảng 20h30’ngày 18/02/2018 có đẩy xe ba gác vào sân số nhà 17 Ngô Từ, phường L S để gửi, thấy tại đây đang có khoảng hơn 20 người đang đánh bạc, V đứng xem một lúc sau đó lấy từ trong người ra 150.000đ để xuống chiếu để đánh bạc, mới tham gia đánh được một ván 50.000đ bị thua đang tiếp tục đánh thì Công an đến bắt quả tang.

- Trần Minh K khai: Do nghiện chất ma túy nên vào khoảng 19h ngày 18/02/2018 đi qua đường Ngô Từ thấy có rất đông người đang tập trung đánh bạc. Do đó K vào mục đích xin tiền để sử dụng ma túy, không tham gia đánh bạc.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa đã quyết định: Phạm Văn H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Phạm Thị V, Lê Thị S, Trần Thị H, Trần Thị T, Nguyễn Đình B, Trần Hồng Đ, Nguyễn Thị Thanh H, Ninh Thế H, Hồ Thị L, Nguyễn Lê T, Lê Trọng H và Trần Minh K phạm tội “ Đánh bạc”.

Bản án sơ thẩm đã áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 BLHS đối với Hồ Thị L; áp dụng Khoản 1 Điều 321; Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58; Khoản 5 Điều 65; Khoản 2 Điều 56 BLHS đối với Nguyễn Thị Thanh H; áp dụng Khoản 1 Điều 321; Khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 58 BLHS đối với Trần Minh K; xử phạt:

- Nguyễn Thị Thanh H 10 (mười) tháng tù. Tổng hợp với 24 tháng tù tại Bản án số 27/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 34 (ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 01 tháng 24 ngày (từ ngày 17/10/2013 đến ngày 11/12/2013) của bản án trước.

- Trần Minh K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Hồ Thị L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với các bị cáo khác về tội “Đánh bạc”, tuyên xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Sau án sơ thẩm xử, từ ngày 23 đến 26/4/2019 các bị cáo Nguyễn Thị H, Hồ Thị L đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Trần Minh K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H văng mặt; các bị cáo L, K giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trong bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên nhận thấy các bị cáo Nguyễn Thị Thanh H, Hồ Thị L đều đang có tiền án về các tội ma túy và đánh bạc trước đó, các bị cáo không có thêm tình tiết gì mới và mức án mà cấp sơ thẩm tuyên là đã phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo nên không có căn cứ để giảm hình phạt cho các bị cáo, KSV đề nghị giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo H, L.

Đối với Trần Minh K có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thêm một số tình tiết khác, lại được chính quyền địa phương đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để chăm lo cuộc sống cho gia đình nên KSV đề nghị HĐXX áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 BLTTHS; giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo K được hưởng án treo và ấn định thời gian thử theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng, các bị cáo vẫn tha thiết đề nghị HĐXX xem xét kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng.

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện:

Vào khoảng 21h 00 ngày 18/02/2018, tại khu vực sân của gia đình bà Phạm Thị Thảo ở số nhà 17 Ngô Từ, phường L S, thành phố Thanh Hóa; Phạm Văn H đã có hành vi chuẩn bị chiếu, bát, đĩa và điện sáng cho các con bạc Phạm Thị V, Lê Thị S, Trần Thị H, Trần Thị T, Nguyễn Đình B, Phạm Thị Thu, Trần Hồng Đ, Nguyễn Thị Thanh H, Ninh Thế H, Hồ Thị L, Nguyễn Lê T, Lê Trọng H và Trần Minh K đánh bạc dưới hình thức đánh “Sóc đĩa” ăn tiền thì bị Công an tỉnh Thanh Hóa bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 25.300.000đ và các dụng cụ đánh bạc.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh H, Hồ Thị L và Trần Minh K phạm tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 BLHS như cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử là có căn cứ. Các bị cáo cũng tự nhận thấy có tội như bản án sơ thẩm xử và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Hành vi cña các bị c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, x©m ph¹m ®Õn trËt tù c«ng céng, g©y mÊt trËt tù trÞ an xã hội.

Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:

Đối với bị cáo H, bị cáo L, ngoài các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ thì tại cấp phúc thẩm, cả 02 bị cáo đều không có tình tiết gì mới để có thể xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều đang có tiền án về các tội ma túy, đánh bạc trước đó. Mặt khác, mức án Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đối với cả 02 bị cáo là đã phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo. Vì vậy cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H, bị cáo L.

Đối với bị cáo K, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thành khẩn nên không có tình tiết giảm nhẹ TNHS nhưng tại cấp phúc thẩm, bị cáo K đã thành khẩn khai báo. Ngoài ra bị cáo còn có thêm tình tiết mới là: mẹ của bị cáo là người có công lao đóng góp cho đất nước, được nhà nước khen thưởng Huân chương kháng chiến. Bị cáo có con nhỏ sinh 2016, mắc bệnh tim bẩm sinh Fallot 4 phải phẫu thuật đặc biệt, sức khỏe yếu, thường xuyên phải có người chăm sóc. Chính quyền địa phương có xác nhận hoàn cảnh của gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đề nghị Tòa án cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc mẹ già (vợ của Liệt sỹ) và chăm lo cuộc sống cho gia đình nên bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy, bị cáo K có thêm một số tình tiết giảm nhẹ TNHS mới tại cấp phúc thẩm.Tuy bị cáo có nhân thân 2011 bị xử phạt 24 tháng tù về tội ma túy nhưng cũng đã lâu, lần phạm tội này tính chất hành vi cũng có mức độ, chỉ đứng ngoài chơi với hình thức thả diều 1-2 ván. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, địa phương nhận trách nhiệm giám sát giáo dục nên có thể chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã quyết định nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của bị cáo H, L không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a, b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thanh H, Hồ thị L; giữ nguyên Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh hóa về hình phạt đối với các bị cáo H, L.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh K; sửa Bản án số 109/2019/HSST ngày 16/4/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thanh hóa về hình phạt đối với bị cáo K.

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 56 của BLHS;

Xử phạt: Nguyễn Thị Thanh H 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 24 tháng tù tại Bản án số 27/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 34 (ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 01 tháng 24 ngày (từ ngày 17/10/2013 đến ngày 11/12/2013) của bản án trước.

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS;

Xử phạt: Hồ Thị L 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

*Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 65 BLHS;

Xử phạt: Trần Minh K 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao Trần Minh K cho Ủy ban nhân dân phường A H, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo H, L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSPT; bị cáo K không phải chịu án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ