- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH Sài Gòn Thương Tín - Lê Hoàng E"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2019/DS-ST Ngày 27 - 11 - 2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Diễm Phúc
Ông Trần Thanh Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 368/2019/TLST–DS ngày 13 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 330/2019/QĐST- DS ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ trụ sở: Số 266-268, đường N, phường 8, quận 3, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Đức Thạch D là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc S ).
Ông Diệp Lâm Kỳ P - Giám đốc Chi nhánh C là người đại diện theo ủy quyền của bà D (Văn bản ủy quyền số 4047/2018/GUQ-PL ngày 10/12/2018).
Ông Nguyễn Bình P – Chuyên viên quản lý nợ, phòng kiểm soát rủi ro chi nhánh tỉnh C là người đại diện theo ủy quyền của ông Diệp Lâm Kỳ P (Văn bản ủy quyền số 1206/GUQ-CNCM ngày 08/11/2019). (có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Hoàng E, sinh năm 1990
Cứ trú tại: ấp Bào H xã Quách P , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 9 năm 2019 của nguyên đơn và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Bình P trình bày:
Ngày 03/7/2015, anh Lê Hoàng E ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần S chi nhánh C (gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của anh E, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tổng hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng cho anh E, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, anh E thực hiện giao dịch trên thẻ Master với số tiền 42.803.000 đồng, từ khi kích hoạt sử dụng thẻ anh E đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 43.017.206 đồng, hiện còn thiếu Ngân hàng khoản nợ là 18.710.771 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng anh E không có thiện chí trả nợ. Do đó anh E đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng thẻ tín dụng. Ngày 01/4/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/11/2019, anh Lê Hoàng E còn nợ Ngân hàng số tiền đối với hợp đồng thẻ tín dụng là 18.710.771 đồng (trong đó vốn là 11.322.367 đồng, lãi trong hạn là 4.925.603 đồng, lãi quá hạn là 2.462.801 đồng).
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Hoàng E trả tổng số tiền 18.710.771 đồng (trong đó vốn là 11.322.367 đồng, lãi trong hạn là 4.925.603 đồng, lãi quá hạn là 2.462.801 đồng). Đồng thời anh E phải trả khoản lãi phát sinh từ ngày 28/11/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Đối với bị đơn anh Lê Hoàng E: Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh E theo quy định pháp luật, nhưng anh E không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh E là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng anh E vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh E.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngày 07/7/2015 Ngân hàng mở thẻ tín dụng cho anh E hạn mức 15.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh E trả nợ không đúng thỏa thuận nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh E trả số tiền vốn vay và tiền lãi còn thiếu. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/7/2015, do các bên xác lập trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, nhưng đang thực hiện có nội dung và hình thực phù hợp với quy định Bộ luật này, nay xảy ra tranh chấp về hợp đồng vay nên cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 giải quyết.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh E phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ 18.710.771 đồng (trong đó vốn là 11.322.367 đồng, lãi trong hạn là 4.925.603 đồng, lãi quá hạn là 2.462.801 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/7/2015.
Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/7/2015 anh E có đề nghị Ngân hàng mở thẻ tín dụng Master cho anh E, đến ngày 07/7/2015 Ngân hàng cấp thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000 đồng cho anh E. Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng này được hai bên thực hiện trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, tuân thủ về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia giao dịch có mọi quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký. Trong qúa trình thực hiện giao dịch trên thẻ Master, anh E giao dịch với số tiền 42.803.000 đồng và đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 43.017.206 đồng.
Kể từ ngày 01/4/2018 anh E không thanh toán bất cứ khoản nào cho Ngân hàng. Phía Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần, nhưng anh E không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/7/2015, nên anh E đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Cũng như, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: “…Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết…mà bên đượng sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh…”. Viện dẫn theo điều luật trên, từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh E, nhưng anh E không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của Ngân hàng nên anh E phải chịu thiệt hại về sự vắng mặt của mình.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S , buộc anh Lê Hoàng E trả tổng số tiền 18.710.771 đồng (trong đó vốn là 11.322.367 đồng, lãi trong hạn là 4.925.603 đồng, lãi quá hạn là 2.462.801 đồng).
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định của hợp đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của Ngân hàng phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “…bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận…”. Do đó, anh E phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 935.500 đồng. (18.710.771 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 688, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
1. Buộc anh Lê Hoàng E trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tính đến ngày xét xử sơ thẩm gồm các khoản sau:
Tổng số tiền là 18.710.771 đồng (mười tám triệu bảy trăm mười ngàn bảy trăm bảy mươi mốt đồng). Trong đó nợ gốc là 11.322.367 đồng, lãi trong hạn là 4.925.603 đồng, lãi quá hạn là 2.462.801 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/11/2019) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng 442.000 đồng (bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0009871 ngày 13 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Anh Lê Hoàng E phải chịu 935.500 đồng (chín trăm ba mươi lăm ngàn năm trăm đồng) anh E chưa nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sư; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Giang Nam |