- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ng Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 18/5/2018 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 20/01/2018.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2018/HS-ST Ngày 24 tháng 5 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Trần Văn Tùng
2. bà Phạm Thị Tố Tâm
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/2018/TLST-HS ngày 27/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2018/HSST-QĐ ngày 18/5/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ng Đ , sinh năm 1995 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: khối M Th , phường Đ V , thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn S và bà Trần Thị Ng , mẹ kế: Nguyễn Thị L ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 20/01/2018 được tại ngoại, bị bắt tạm giam từ ngày 18/5/2018 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h00’ ngày 10/01/2018, Nguyễn Ng Đ đến bến xe Vinh gặp và mua của một thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 gói ma túy giá 800.000đ. Sau khi mua được ma túy Đ về nhà. Đến khoảng 11h00’ ngày 11/01/2018 Đ chở Nguyễn Mạnh L sinh năm 2000, trú tại khối 12, phường L, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đi đến khu vực đường Nguyễn Tr , thuộc khối 12, phường L, thành phố Vinh, tỉnh nghệ An để sửa xe máy thì bị tổ công tác Công an huyện Ng, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an phường L, thành phố Vinh kiểm tra, phát hiện Đ đang cất giữ 02 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng.
Vật chứng thu giữ: 02 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveALT, biển kiểm soát 37B1-09218.
Tại cơ quan điều tra Đ khai nhận 02 gói ni lông Công an thu giữ là ma túy, Đ cất để sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 11/01/2018 và Kết luận giám định số 209/KL-PC54(MT) ngày 15/01/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Hai mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Nguyễn Ng Đ gửi tới giám định đều là ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có tổng khối lượng 1,05 gam.
Tại bản cáo trạng số 187/VKS-HS ngày 26/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Ng Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ng Đ mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,05 gam ma túy (Methamphetamine).
Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
2.1. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 11h25’ ngày 11/01/2018, tại khu vực đường Ng , thuộc khối 12, phường L , thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Ng Đ đang cất giữ 02 gói ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng 1,05 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
2.2. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì khai báo thành khẩn. Tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2.3. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
2.5. Về vật chứng: 1,05 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WveALT, biển kiểm soát 37B1-09218 thu giữ ở bị cáo. Quá trình điều tra xác định anh Trần Văn V là chủ sở hữu hợp pháp, anh V không biết bị cáo Đ sử dụng chiếc xe đi mua ma túy nên cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh đã trả lại cho anh V .
Đối với Nguyễn Mạnh L đi cùng với Nguyễn Ng Đ nhưng không biết Đức có hành vi cất giữ ma túy nên không phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ng Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 18/5/2018 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 20/01/2018.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (Methamphetamine) hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK883 ngày 08/5/2018.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Ng Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - VKSNDTP Vinh; - Cơ quan CSĐT CA TP Vinh; - Chi cục THADSTP Vinh; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trai giam CA tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi.....giờ.....ngày 24 tháng 5 năm 2018; Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:) Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với: bị cáo Nguyễn Ng Đức, sinh năm 1995 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: khối Mỹ Thành, phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: viên, Kiểm sát viên: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. chất ma túy”. khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. \ tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 18/5/2018 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 20/01/2018 Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý 5.Các vấn đề khác: 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong có chứa ma túy (Methamphetamine) hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK883 ngày 08/5/2018. 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Ng Đức phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 2018. xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tại: phòng nghị án - Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh nghệ An Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Văn Tùng – Bà Phạm Thị Tố Tâm Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2018/TLST-HS Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả 1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý 2. Về tội danh: bị cáo Nguyễn Ng Đức phạm tội “Tàng trữ trái phép Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý 3. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s 4. Về mức hình phạt: Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ng Đức 18 (Mười tám) 5.1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 5.2. Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 5.3. Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút..…, ngày 24 tháng 5 năm Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |