vanban.org

Bản án 180/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thái Doãn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thái Doãn N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Thái Doãn N phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thái Doãn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 180/2017/HSST
Ngày: 24/8/2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Vƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

- Bà Dƣơng Thị Bạn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn, Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương: Ông Mai Chiến Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Thái Doãn N, sinh năm 1991 tại Nghệ An; HKTT: Xóm 6, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lơ xe; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Thái Doãn T, sinh năm 1963 và bà Trần Thị V, sinh năm 1969. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2017 cho đến nay. Có mặt.

Ngƣời bị hại: Bà Ka Thị Thu V, sinh năm 1987, trú tại: Đội 20, thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Thái Doãn T, sinh năm 1963; trú tại: Xóm 6, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

2/ Ông Vũ Văn T, sinh năm 1963; trú tại: 8L/8 khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Thái Doãn N thì nội dung vụ án nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ ngày 16/3/2017, bị cáo Thái Doãn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza mang biển số 77G1 – 070.30 của bà Ka Thị Thu V chở bà V đi chơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo chở bà V đến quán trà sữa ở địa chỉ 5A/C8 khu phố 3, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng để uống nƣớc. Sau khi gửi xe, bị cáo giữ chìa khóa và thẻ xe rồi cùng bà V vào quán. Khi bà V sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 thì bị cáo không cho đồng thời lấy điện thoại của bà V bỏ vào túi quần. Khi đó, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe và điện thoại của bà V nên đã giả vờ đi vệ sinh. Sau khi xuống bãi giữ xe, bị cáo đƣa thẻ xe cho nhân viên giữ xe, lấy và điều khiển xe của bà V đến tiệm cầm đồ TT do ông Vũ Văn T làm chủ để cầm cố chiếc điện thoại Samsung J7 với giá 1.700.000đồng. Đến ngày 17/3/2017, bị cáo đến khu vực chợ D (thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng) nhờ đối tƣợng tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) bán chiếc xe của bà V thu đƣợc số tiền 3.500.000đồng, bị cáo chia cho H 200.000đồng, còn lại để tiêu xài cá nhân. Theo Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá ngày 31/3/2017 xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 có giá trị 2.400.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Nozza biển số 77G1 – 070.30 có giá trị 19.000.000đồng, tổng giá trị các tài sản là 21.400.000đồng.

Tại bản Cáo trạng số 177/QĐ/KSĐT ngày 14/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Thái Doãn N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung v n giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất m c độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Thái Doãn N từ 08 (tám) tháng tù đến 01 (một) năm tù.

Căn c các ch ng c và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Thái Doãn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt ngƣời, thu giữ vật ch ng, lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm ch ng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 16/3/2017, tại địa chỉ 5A/C8 khu phố 3, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Thái Doãn N sau khi nhận đƣợc tài sản hợp pháp từ ngƣời bị hại Ka Thị Thu V, đã lợi dụng sự tin tƣởng của ngƣời bị hại rồi chiếm đoạt tài sản gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza biển số 77G1 – 070.30. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 31/3/2017 của Hội đồng định giá thị xã Thuận An xác định tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 21.400.000 đồng. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Thái Doãn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận th c đƣợc hành vi lợi dụng lòng tin của ngƣời bị hại trao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng vì tƣ lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng s c lao động của mình bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, phải xét xử m c án nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động cho gia đình bồi thƣờng cho ngƣời bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đƣợc quy định tại Điểm b, h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Đối với việc bị cáo cầm cố điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 cho ông Vũ Văn T. Xét thấy ông T không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi này là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ngƣời bị hại bà Ka Thị Thu V và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Doãn T (cha của bị cáo) đã thỏa thuận ông Thái Doãn T tự nguyện thay bị cáo bồi thƣờng cho ngƣời bị hại bà Ka Thị Thu V giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza biển số 77G1 – 070.30 với số tiền 20.000.000đồng, Hiện ngƣời bị hại bà Ka Thị Thu V và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thái Doãn T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T có yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 1.700.000đồng do cầm cố điện thoại mà bị cáo đã chiếm đoạt của ngƣời bị hại. Xét thấy yêu cầu của ông T là có căn c nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật ch ng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 màu trắng là tài sản của ngƣời bị hại Ka Thị Thu V. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Riêng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza mang biển số 77G1 – 070.30 của bà Ka Thị Thu V hiện chƣa thu hồi đƣợc, Cơ quan Điều tra đã ban hành quyết định truy tìm vật ch ng, khi nào thu hồi đƣợc thì Cơ quan Công an sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn c , đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Thái Doãn N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 140; Điểm b, h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Thái Doãn N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Thái Doãn N bồi thƣờng cho ông Vũ Văn T số tiền 1.700.000đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ngƣời đƣợc thi hành án thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án thì còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án số tiền lãi theo m c lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ng với thời hạn và số tiền chậm trả.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Thái Doãn N phải nộp 200.000đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngƣời bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ