vanban.org

Bản án 180/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H và Vũ Minh T phạm tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 12 (mƣời hai) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 10 (mƣời) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đ và đồng phạm phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H và Vũ Minh T phạm tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số 180/2017/HSST
Ngày 28-7-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Kim Oanh.

2. Ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 190/2017/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 187/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1981 tại tỉnh Thái Bình; thƣờng trú: Thôn S, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; tạm trú: 72A/3 khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Giáo viên dạy lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1954 và bà Phan Thị L, sinh năm 1957; vợ tên Phan Thị T, sinh năm 1980 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 12/4/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 20/4/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Bùi Văn C, sinh năm 1983 tại tỉnh Thái Bình; thƣờng trú: 479/6/4 T, phƣờng 7, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: 58K, đƣờng B, phƣờng 11, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Bùi Xuân K, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952; vợ tên Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1983; có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 12/4/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 14/4/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Vũ Văn H, sinh năm 1990 tại tỉnh Lâm Đồng; thƣờng trú: Thôn 6, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Vũ Hồng T, sinh năm 1964 và bà Mai Thị H, sinh năm 1963; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 12/4/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 20/4/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

4. Vũ Minh T, sinh năm 1974 tại tỉnh Nam Định; thƣờng trú: Thôn 2, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Vũ Thanh H, sinh năm 1946 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1948; vợ tên Bùi Thị S, sinh năm 1981; có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 12/4/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 12/5/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người làm chứng:

1/ Anh Lê Thành A, sinh năm 1993; thƣờng trú: Thôn 4, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: 232 Đ, Phƣờng 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2/ Anh Nguyễn Chí Đ, sinh năm 1973; thƣờng trú: Tổ 30, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/4/2017, Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H, Vũ Minh T và Lê Thành A đến nhà nghỉ Tâm Đạt do anh Nguyễn Chí Đ làm chủ ở khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thuê phòng ở lầu 01 để nghỉ ngơi. Bùi Văn C mang theo 01 cái bát và 01 cái đĩa bằng sứ đến nhà nghỉ để ăn mì, Nguyễn Ngọc Đ rủ C, H, T đánh bài dƣới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền. Nguyễn Ngọc Đ dùng kéo cắt vỏ bao thuốc lá thành 04 quân vị hình tròn, mỗi quân vị có một mặt trắng và 01 mặt xanh. Hình thức chơi ngƣời làm cái đặt 04 quân vị lên đĩa và dùng bát sứ úp lại, ngƣời chơi đặt ô chẵn hoặc lẻ tƣơng ứng với số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Ngƣời làm cái xóc đĩa lên, xuống rồi mở ra, nếu có 02 quân vị mặt xanh và 02 quân vị mặt trắng, hoặc 04 quân vị mặt xanh, hoặc 04 quân vị mặt trắng thì ngƣời đặt chẵn sẽ thắng tƣơng ứng với số tiền đã đặt, ngƣời đặt lẻ thua tƣơng ứng số tiền đã đặt; nếu có 03 quân vị mặt trắng, 01 quân vị mặt xanh hoặc 03 quân vị mặt xanh, 01 quân vị mặt trắng thì ngƣời đặt lẻ thắng tƣơng ứng với số tiền đặt, ngƣời đặt chẵn thua tƣơng ứng số tiền đã đặt. Quá trình chơi, Nguyễn Ngọc Đ là ngƣời cầm cái. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, lực lƣợng công an phƣờng T kiểm tra Nhà nghỉ Tâm Đạt, bắt quả tang thu giữ 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị đã cắt hình tròn và số tiền 9.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định đƣợc Nguyễn Ngọc Đ dùng 1.400.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.800.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 3.200.000 đồng; Bùi Văn C dùng 2.000.000 đồng đánh bạc, thua 500.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 1.500.000 đồng; Vũ Văn H dùng 1.600.000 đồng đánh bạc, thua 600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 1.000.000 đồng; Vũ Minh T mang theo 4.000.000 đồng, dùng 1.400.000 đồng đánh bạc, thua 700.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 3.300.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.400.000 đồng, số tiền còn lại 2.600.000 đồng cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho Vũ Minh T.

Vật chứng: 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị hình tròn bằng bao thuốc lá và 6.400.000 đồng.

Đối với Lê Thành A không tham gia đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Đối với Nguyễn Chí Đ là chủ nhà nghỉ Tâm Đạt không biết các bị cáo thuê phòng nghỉ để đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Bản Cáo trạng số 194/QĐ-KSĐT ngày 26 tháng 6 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H và Vũ Minh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 248 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, p khoản 1 điều 46; điều 53 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ và Bùi Văn C mỗi bị cáo từ 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc; xử phạt bị cáo Vũ Văn H và Vũ Minh T mỗi bị cáo từ 08 triệu đồng đến 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị hình tròn bằng bao thuốc lá; tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc số tiền 6.400.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tạm giữ các bị cáo sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú là đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; những ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/4/2017, tại nhà nghỉ Tâm Đạt do anh Nguyễn Chí Đ làm chủ ở khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, công an phƣờng T bắt quả tang Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H, Vũ Minh T đang đánh bạc dƣới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền, thu giữ trên chiếu bạc 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị đã cắt hình tròn và số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.400.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đánh bạc dƣới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau với số tiền đánh bạc là 6.400.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 194/QĐ-KSĐT ngày 26 tháng 6 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc dƣới hình thức xóc đĩa nhằm tƣớc đoạt tiền của nhau là vi phạm pháp luật bị Nhà nƣớc nghiêm cấm, nhƣng vì tham lam tƣ lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ là ngƣời đề xuất, rủ các bị cáo chơi xóc đĩa, chuẩn bị các quân vị bằng cách dùng kéo cắt vỏ bao thuốc lá làm thành 04 quân vị phục vụ cho việc đánh bạc, quá trình chơi Đ là ngƣời trực tiếp cầm cái xóc đĩa cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc; bị cáo Bùi Văn C là ngƣời chuẩn bị dụng cụ là bát sứ và đĩa sứ, các bị cáo Vũ Văn H và Vũ Minh T tham gia đánh bạc với vai trò nhƣ nhau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện có việc làm ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự.

Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng; xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng không làm ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã D. Xét mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Đ, C và H là phù hợp. Đối với bị cáo T tham gia đánh bạc với số tiền ít nhất, hơn nữa bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/4/2017 đến ngày 12/5/2017 đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức phạt tiền thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 điều 248 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mƣơi triệu đồng”, tuy nhiên Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

+ Xét số tiền 6.400.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, căn cứ vào điểm b, khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm c, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

+ Xét 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị hình tròn bằng bao thuốc lá, các bị cáo sử dụng làm công cụ để đánh bạc, căn cứ vào điểm a, khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với cây kéo bị cáo Nguyễn Ngọc Đ dùng cắt quân vị, hiện không thu hồi đƣợc.

Đối với Lê Thành A không tham gia đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý. Đối với Nguyễn Chí Đ là chủ nhà nghỉ Tâm Đạt không biết các bị cáo thuê phòng nghỉ để đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H và Vũ Minh T phạm tội đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, p khoản 1 điều 46; điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 12 (mƣời hai) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 10 (mƣời) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 08 (tám) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 06 (sáu) triệu đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 6.400.000 (sáu triệu bốn trăm nghìn) đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa bằng sứ, 01 bát bằng sứ, 04 quân vị hình tròn bằng bao thuốc lá.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/6/2017, biên lai thu tiền số AA/2013/00399 ngày 26/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Bùi Văn C, Vũ Văn H và Vũ Minh T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ