vanban.org

Bản án 18

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
huyÖn th êng Xu©n
TØnh thanh ho¸

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---*---
B¶n ¸n sè: 18/2022/HSST
Ngµy: 29/4/2022

Nh©n danh

N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn th êng Xu©n, TỈNH THANH HÓA

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà: Lê Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công bà Lê Thị Huyền

Thư ký ghi biên bản phiên toà:

Ông Hoàng Văn Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/HSST - QÐ ngày 15/4/2022 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm: 1968, tại thị trấn TX, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn TX, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và con bà Mai Thị D; có vợ Lê Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/12/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “đánh bạc” theo Bản án số 15/2005/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/7/2021 đến 17/7/2021, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt). + NGƯỜI bµo ch÷a cho bÞ c¸o TRẦN VĂN THANH:

Bà: Lê Thị Lý - Trợ giúp viên Pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 6 – Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

+ NGƯỜI LÀM CHỨNG:

1. Ông Lê Hữu G, sinh năm: 1951 (vắng mặt);

2. Bà Lê Thị L, sinh năm: 1969 (vắng mặt);

3. Ông Lê Văn C, sinh năm: 1963 (vắng mặt);

4. Ông Lê Văn Q, sinh năm: 1952 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h ngày 07/7/2021, Lê Văn C, Lê Văn Q cùng trú tại thôn TN3, xã XD, huyện Thường Xuân; Lê Hữu G, trú tại thôn LT, xã LS, huyện Thường Xuân và Trần Văn T, ở khu 5 thị trấn Thường Xuân cùng ăn cơm, uống rượu tại nhà Lê Văn C. Lê Hữu G nói “anh em ngồi đợi xem bóng đá thì làm tý”, mọi người đều hiểu là G rủ đánh bạc nên đồng ý. Do nhà không có bài nên Lê Văn Q đi ra quán mua 02 bộ bài tú lơ khơ đem về nhà C, sau đó Lê Văn C, Lê Hữu G, Lê Văn Q, Trần Văn T cùng nhau ngồi dưới chiếu được chai sẵn từ trước ở phòng khách để đánh bạc, thống nhất dùng bộ bài Tú Lơ Khơ gồm 52 cây từ A đến K để chơi, hình thức đánh “phỏm”, mức cá cược 10.000đồng, 20.000đồng, 30.000đồng, 40.000đồng và 50.000đồng. Ai có bài điểm “Ù” sẽ được lấy của mỗi người chơi 50.000đồng, người có điểm cao nhất sẽ được ăn cả, trong đó người về nhì mất số tiền 10.000đồng, người về ba mất 20.000đồng, người về bét mất số tiền 30.000đồng. Nếu ai không có phỏm gọi là “cháy”, sẽ mất số tiền 40.000đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị Công an xã XD, huyện TX phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 690.000đồng; Thu trên người Lê Văn C 1.560.000đồng; thu trên người Lê Văn Q 800.000đồng; thu trên người Trần Văn T 4.000.000đồng; Thu trên người Lê Hữu G 400.000đồng. 02 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài bài từ A đến K; 01 chiếu bằng nhựa kích thước dài 3,1m, rộng 1,9m, chiếu có họa tiết hoa văn màu vàng, đỏ, xanh, chiếu đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận, khi tham gia đánh bạc Lê Văn C 1.560.000đồng; thu trên người Lê Văn Q 840.000đồng; thu trên người Trần Văn T 4.300.000đồng; Thu trên người Lê Hữu G 500.000đồng, số tiền trên các bị cáo đều dùng vào mục đích đánh bạc.

Ngày 20/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 74/CSĐT, trưng cầu Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Thanh Hóa, giám định số tiền thu tại chiếu bạc là 690.000đồng, tổng số tiền thu trên người Lê Văn C, Lê Văn Q, Lê Hữu G, Trần Văn T là 6.760.000đồng là tiền thật hay tiền giả. Tại bản kết luận giám định số 2373/PC09 ngày 28/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 78 tờ Tiềnpolymer Việt Nam (gồm 7.450.000đồng) gửi giám định là tiền thật.

Đối với Lê Văn C, Lê Văn Q, Lê Hữu G đã bị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xét xử bằng Bản án số 58/2021 ngày 31/12/2021. Đối với Trần Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân ban hành Quyết định trưng cầu số 78/CSĐT, Trưng cầu Viện pháp y tâm thần đối với Trần Văn T. Kết thúc Điều tra, Cơ Quan Cảnh sát điều tra do chưa nhận được kết quả giám định nên ngày 11/11/2021 Cơ Quan Điều tra Công an huyện Thường Xuân đã ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 02/CSĐT ngày 12/11/2021, ban hành quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 11/CSĐT và Quyết định tạm đình chỉ điều tra số 13/CSĐT đối với Trần Văn T.

Ngày 09/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân nhận được Kết luận giám định số 434/KLGĐ ngày 28/12/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Trần Văn Thanh bị bệnh rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F06.3 bệnh ở giai đoạn ổn định. Tại các điển nêu trên bệnh nhân đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuânban hành Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 02/QĐ-CSĐT, đồng thời ban hành Quyết định phục hồi điều tra bị can số 02/QĐ-CSĐT đối với Trần Văn T.

Thu giữ và xử lý vật chứng: 02(hai) bộ bài Tú lơ khơ 52 quân bài, gồm các cây từ A đến K; 01 (một) chiếu bằng nhựa, dài 3,1m, rộng 1,9m, chiếu có họa tiết văn hoa màu vàng, đỏ, xanh, đã qua sử dụng; Tiền thu tại chiếu bạc 690.000đồng; Thu trên người Lê Văn C 1.560.000đồng; thu trên người Lê Văn Q 800.000đồng; Thu trên người Trần Văn T 4.000.000đồng; Thu trên người Lê Hữu G 400.000đồng, các vật chứng đã được xử lý tại Bản án số 58/2021/HSST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT- VKSTX ngày 08/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Ðánh bạc” theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 ĐiÒu 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn T về tội “Ðánh bạc”và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; xử phạt: Trần Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, bị cáo được trừ đi thời hạn tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh gia đình bị cáo Trần Văn T khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được xử lý theo Bản án số 58/2021/HSST ngày

31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Về án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T có quan điểm bào chữa cho rằng: Đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, bị cáo là người đang được hưởng mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 540.000đồng. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS tuyên phạt bị cáo mức án nhẹ nhất. Về án phí gia đình bị cáo T thuộc diện hộ nghèo có đơn xin miễn án HHST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ÐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 07/7/2021, tại gia đình Lê Văn C, Trần Văn T cùng các đồng phạm đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm”. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.450.000đồng. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành đầy đủ tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi cùng Lê Văn Có, Lê Văn Q, Lê Hữu G vụ án đã xét xử tại Bản án số: 58/2021/HSST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo đã thực hiện cùng Lê Văn C, Lê Văn Q, Lê Hữu G. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân truy tố Trần Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là chính xác và có cơ sở.

[3]. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Văn T có nhân thân xấu nên áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên phạt một mức án nhất định, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp gì, hàng tháng còn được hưởng trợ cấp xã hội nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” đề nghị mức hình phạt; án phí là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6].Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

[7].Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số: 58/2021/HSST ngày 31/12/2021.

[8]. Về án phí: Bị cáo thuộc cá nhân hộ nghèo có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh

Căn cứ khoản 1 Ðiều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Ðiều 51; Điều 17; Điều 58 Ðiều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Trần Văn T phạm tội “Ðánh bạc”.

Xử phạt: Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 08/7/2021 đến ngày 17/7/2021) là 09 (chín) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành án là 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành hình phạt án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” bị cáo Trần Văn T được miễn nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (29/4/2022).

t.m héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

N¬i nhËn:

Cỡ chữ