- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Bị cáo Đinh Xuân Đ phạm tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2026/HSST Ngày 04 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Dương Thị Hương Giang
2. Nguyễn Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST - HS ngày 21/01/2026, đối với bị cáo:
Đinh Xuân Đ; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 26 tháng 04 năm 1982, tại thành phố Hải Phòng; nơi ĐKNKTT: Tổ 99, phường H, thành phố Đ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Đinh Xuân H và bà Nguyễn Thị S; trú tại thành phố Hải Phòng; vợ: Cao Mai C, sinh năm 1995, trú tại Tổ 99, phường H, thành phố Đ; con: Có 01 con, sinh năm 2016.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đ n nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn N; sinh năm 1935. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở (trước khi chết): Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là: Xã B, tỉnh Quảng Trị).
Đại diện theo pháp luật của Bị hại: Ông Lê Minh L, sinh năm: 1959 (Là con trai của bị hại). Địa chỉ: Xóm 3, Thôn T, xã B, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Anh M, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Số 77C T, phường T, TP Hà Nội, vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 21/5/2025, Đinh Xuân Đ sinh năm 1982, trú tại phường H, thành phố Đ điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H -195.81 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 29R-508.10 lưu thông trên Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn T, xã Bắc T, tỉnh Quảng Trị, theo hướng Nam - Bắc. Khi đ n Km 632+100m, đoạn đường có biển báo I.423b “Vị trí người đi bộ sang ngang”, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, nhưng Đ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn cho người đi bộ qua đường, dẫn đ n va chạm với ông Lê Văn N sinh năm 1935, trú tại thôn T, xã B, tỉnh Quảng Trị đang đi bộ sang đường (hướng Đông
- Tây) làm ông N bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H. Đ n ngày 24/5/2025, ông N tử vong tại nhà do đa chấn thương đã điều trị không h i phục.
Tại bản k t luận giám định tử thi số 786/KL - PY ngày 11/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình (nay thuộc Công an tỉnh Quảng Trị), k t luận nguyên nhân ch t của ông Lê Văn N là đa chấn thương đã điều trị không phục h i.
K t quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại Km 632 + 100m trên Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là xã B, tỉnh Quảng Trị). Trên mặt đường có hai vạch kẻ đường màu trắng đứt nét và một vạch kẻ đường màu trắng liền nét chạy dọc theo dải phân cách chia thành 03 làn đường, từ tâm vạch kẻ đường trong cùng bên phải vào mép đường bên phải là 2,0m, từ tâm vạch kẻ đường màu trắng đứt nét bên trái vào mép đường bên phải là 5,5m, từ tâm vạch kẻ đường màu trắng liền nét vào mép đường bên phải là 9,0m. Dải phân cách giữa có khoảng mở rộng 24m, hai đầu khoảng mở có đặt biển báo P.102 “Cấm đi ngược chiều”, phía Bắc của khoảng mở có bố trí vạch đi bộ qua đường, một số vạch bị mờ. Có biển báo I.423b “Vị trí người đi bộ sang ngang” trên lề đường tương ứng với vị trí khoảng mở. Cách hiện trường vụ tai nạn hướng vào Nam có gắn biển R.420 “Bắt đầu khu đông dân cư”.
K t quả khám nghiệm phương tiện: Tại bản k t luận giám định số 772/KL-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, k t luận: Đặc điểm dấu v t va chạm phù hợp với tình huống cụm đèn chi u sáng, đèn xi nhan phía trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-195.81 va chạm với đối tượng khác theo hướng từ trước ra sau so với trục dọc của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-195.81.
K t quả kiểm tra n ng độ c n đối với Đinh Xuân Đ là 0,00 mg/L; kiểm tra nhanh chất ma túy với Đinh Xuân Đ là âm tính.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đ vật; xử lý vật chứng: Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị) đã tạm giữ và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị: 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H - 195.81 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 29R-508.10 cùng với các giấy tờ liên quan đ n xe ô tô; 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Đinh Xuân Đ, có hiệu lực h t ngày 09/5/2029. Đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-195.81 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 29R-508.10 cùng với các giấy tờ liên quan đ n xe ô tô. Hiện đang tạm giữ theo vụ án 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Đinh Xuân Đức, có hiệu lực h t ngày 09/5/2029.
* Phần dân sự: Đinh Xuân Đ b i thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Lê Văn N với số tiền là 90.000.000 đ ng. Đại diện gia đình bị hại đã có Đơn bãi nại và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với Đinh Xuân Đ.
Tại bản cáo trạng số 29/CT – VKSKV1 - KT ngày 30/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã truy tố ra trước Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị để xét xử Đinh Xuân Đ có lý lịch nêu trên về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự như đã nêu trên và đề nghị Hội đ ng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Đinh Xuân Đ từ 12 (mười hai) tháng đ n 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị cáo chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Đ ng thời đề nghị Hội đ ng xét xử xử lý vật chứng trả lại giấy phép lái xe do Sở Giao thông vận tải Thành phố Đà Nẵng cấp cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên toà, bị cáo đã thấy được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xin Hội đ ng xét xử xem xét cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án nh để có điều kiện cải tạo tốt, sớm hoà nhập cộng đ ng làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo, Hội đ ng xét xử xét thấy:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, c ng như tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, k t luận khám nghiệm hiện trường, giám định pháp y.... Do đó Hội đ ng xét xử có cơ sở xác định:
Do không tuân thủ các quy định về luật giao thông đường bộ, vào 07 giờ 40 phút, ngày 21/5/2025 tại Km 632+100m trên Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn T, xã B, tỉnh Quảng Trị. Đinh Xuân Đ có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, đã điều khiển xe xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29H-195.81 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 29R-508.10 di chuyển theo hướng Nam - Bắc. Đ n đoạn đường có biển báo I.423b “Vị trí người đi bộ sang ngang”, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, Đ thi u sự chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn cho người đi bộ qua đường, đã va chạm với ông Lê Văn N dẫn đ n tử vong.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, xem xét các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, lời khai của người có mặt, có căn cứ xác định diễn bi n nội dung vụ án đã được điều tra chứng minh ở trên là hoàn toàn đúng, do vậy có đủ cơ sở k t luận bị cáo Đinh Xuân Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã truy tố và phát biểu k t luận vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội của bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng:
Bị cáo Đinh Xuân Đ là người đã trưởng thành, có giấy phép lái xe hợp lệ, đã điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 29H-195.81 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 29R-508.10 di chuyển theo hướng Nam - Bắc. Đ n đoạn đường có biển báo I.423b “Vị trí người đi bộ sang ngang”, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, Đ thi u sự chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn cho người đi bộ qua đường, đã va chạm với ông Lê Văn N dẫn đ n tử vong, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đ n khách thể là những quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ và bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân.
Nên đối với bị cáo cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả do bị cáo gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đ n trước ngày phạm tội chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Về tình ti t tăng nặng: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình ti t giảm nh : Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện b i thường thiệt hại đầy dủ theo yêu cầu của đại diện gia đình bị hại được đại diện của bị hại có đơn xin miễn, giảm truy cứu trách nhiệm hình sự. Các tình ti t giảm nh trên được quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở những tình ti t của vụ án, Hội đ ng xét xử cân nhắc, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự, nguyên nhân khách quan, y u tố chủ quan, tính nhân đạo của pháp luật để khi quy t định hình phạt đảm bảo tính giáo dục và trừng trị mang tính thuy t phục đối với bị cáo. Theo đó, Hội đ ng xét xử thấy bị cáo hành vi phạm tội của bị cáo là vô ý, hậu quả làm ch t người, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đ n khách thể là những quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ và bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân, nên cần quy t định hình phạt đối với bị cáo đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tập trung học tập, cải tạo trở thành công dân tốt là phù hợp, có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung về loại tội phạm này.
Về hình phạt bổ sung: Nghề lái xe của bị cáo là công việc mưu sinh hàng ngày để nuôi sống bản thân và gia đình, xét thấy chưa đ n mức phải cấm bị cáo hành nghề lái xe là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Do không cấm bị cáo hành nghề lái xe nên cần trả lại 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Đinh Xuân Đức có hiệu lực h t ngày 09/5/2029 cho Đinh Xuân Đức.
Vật chứng này đang có ở h sơ vụ án sẻ được chuyển giao cho Thi hành án có thẩm quyền để thi hành theo quy định khi án có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm luận tội và hướng đề nghị giải quy t vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sẽ được Hội đ ng xét xử xem xét khi quy t định hình phạt.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án đối với Đinh Xuân Đức.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt:
Bị cáo Đinh Xuân Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[5] Vật chứng vụ án: Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Đinh Xuân Đức do Sở Giao thông vận tải Thành phố Đà Nắng cấp có hiệu lực h t ngày 09/5/2029 cho Đinh Xuân Đ.
Vật chứng này đang có ở h sơ vụ án sẻ được chuyển giao cho Thi hành án có thẩm quyền để thi hành theo quy định khi án có hiệu lực pháp luật.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Xuân Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/02/2026). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - Sở TP tỉnh Quảng Trị; - V SND tỉnh Quảng Trị; - PV 06 (Phòng H sơ nghiệp vụ CAQT); - V SND hu vực 1, Quảng Trị; - Cơ quan THAHS – CA tỉnh Quảng Trị; - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị; - Phòng Thi hành án dân sự V1; - UBND phường Hoà hánh, TP Đà Nẵng; - Thi hành án hình sự TA V1; - Bị cáo Đức; - Người tham gia TT:………………; - Lưu HSVA; - Lưu AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Phú Quảng |