vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 09/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lù A X, tên gọi khác Lù A S; phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lù A X 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 27/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lù A X được quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù A X phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù A X, tên gọi khác Lù A S; phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS-ST
Ngày 09-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải

Thẩm phán: Ông Đỗ Tuấn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cầm Văn Chinh;

2. Ông Lê Bắc Hải;

3. Ông Nguyễn Văn Khiển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 tháng 02 và ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2026/TLST - HS ngày 20 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2026, quyêt định tạm ngừng phiên tòa số 25/2026/HSST-QĐ ngày 06 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Lù A X, tên gọi khác: Lù A S, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã L, tỉnh S; nghề nghiệp; trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lù A P (đã chết) và bà Thào Thị K; bị cáo có vợ là Tráng Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2016/HSST ngày 29/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù A X 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù A X 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã đương nhiên được xóa án tích). Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong vụ án này kể từ ngày 27/12/2024 cho đến nay “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Lù A X: Ông Lường Ngọc Chiến - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Tráng Thị L, sinh năm 1974, nơi cư trú: Bản S, xã L, tỉnh S “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18h45 ngày 27/12/2024, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Sơn La phối hợp các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản Lùn, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Lù A X đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 02 bánh hình chữ nhật bên trong là 60 túi nilon (48 túi màu xanh, 12 túi màu hồng) chứa 11.217 viên nén màu hồng (nghi là Methamphetamine, X khai là ma túy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastell; 01 điện thoại di động nhãn hiệu inteli. 01 xe máy nhãn hiệu HONDA RS biển kiểm soát 30X1-6476 cùng một số giấy tờ có liên quan.

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu trưng cầu giám định. Kết quả: 02 bánh hình chữ nhật bên trong là 60 túi nilon (48 túi màu xanh, 12 túi màu hồng) chứa 11.217 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 1.144,1 gam, trích mỗi túi 05 viên (300 viên) khối lượng 30,06 gam làm mẫu trưng cầu giám định, đánh ký hiệu từ X1 đến X60.

Kết luận giám định số: 173/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu từ X1 đến X60 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 30,06 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1.144,1 gam, loại Methamphetamine”.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và quá trình điều tra bị cáo Lù A X khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Ngày 24/12/2024, X nhận được điện thoại của Tềnh (người quen cũ) nhà ở bản Ta Điếng, huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào nói có hai bánh hồng phiến muốn bán cho khách, khách đã gửi tiền mua ma túy và đặt vấn đề thuê X mang đi giao cho khách của Tềnh, hứa trả công 5.000.000 đồng. X đồng ý, Tềnh hẹn trưa ngày 27/12/2024 sẽ giao ma túy cho X tại khu vực nương bản Cao Mọng, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Ngày 27/12/2024, Lù A X đến điểm hẹn, khi gặp, Tềnh đưa cho X 01 túi vải chứa 02 bánh Hồng phiến, đồng thời gửi ảnh một chiếc xe ô tô qua ứng dụng Zalo cho X, dặn khoảng 18h cùng ngày mang ma túy đến khu vực ngã ba cầu kính Bạch Long thuộc khu vực bản Lùn, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xem ai đi xe như trong ảnh thì giao ma túy cho người đó. Nhận được túi ma túy, X mang về nhà, cất giấu vào bao tải dứa. Sau đó, X điều khiển xe máy chứa ma túy đến khu vực ngã ba cầu kính Bạch Long thuộc khu vực bản Lùn, xã Mường Sang, thấy 01 ô tô đỗ ven đường. X đi đến hỏi có phải khách của Tềnh không? Khi hai người đàn ông trên xe chuẩn bị xuống xe thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang Lù A X cùng vật chứng, còn hai người đàn ông lái xe bỏ chạy thoát.

* Tại Bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS-P1 ngày 19/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lù A X về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Lù A X thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng quyết định truy tố và không khai báo gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tráng Thị L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy bị thu giữ của Lù A X, là tài sản chung duy nhất của hai vợ chồng.

* Tranh luận tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lù A X, tên gọi khác Lù A S phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025:

Xử phạt bị cáo Lù A X 20 (hai mươi) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

- Về vật chứng, án phí: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tiêu hủy số ma túy còn lại của bị cáo và vật chứng không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước, phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội của bị cáo Lù A X: 01 điện thoại di động kiểu nhãn hiệu OPPO, 01 điện thoại di động nhân hiệu Mastell.

+ Trả lại cho bị cáo Lù A X: 01 một điện thoại di động nhãn hiệu Inteli, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

+ Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tráng Thị L: 01 xe máy, biển kiểm soát: 30X1-6476 là tài sản duy nhất của gia đình, kèm theo 01 đăng ký mô tô xe máy biển kiểm soát 30X1-6476 số 002530 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 12/7/2011.

Người bào chữa cho bị cáo Lù A X trình bày lời bào chữa: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La quyết định truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không bị oan sai. Nhất trí quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án 20 (hai mươi) năm tù và miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Lù A X nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định truy tố và quan điểm luận tội đối với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đều không tranh luận đối đáp gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lù A X:

Ngày 27/12/2024, Lù A X bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Lùn, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Khi đang vận chuyển 1.144,1 gam Methamphetamine, mục đích vận chuyến ma túy, mang đi bán lại để nhận tiền công.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Sơn La lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 27/12/2024 tại bản Lùn, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đối với Lù A X cùng vật chứng thu giữ là 01 túi vải thổ cẩm bên trong có 01 bọc túi nilon chứa hai bánh hình chữ nhật theo X khai nhận là 02 bánh hồng phiến, X nhận vận chuyển mang đi bán để nhận tiền công.

- Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/12/2024 tại Công an tỉnh Sơn La xác định: 02 bánh hình chữ nhật bên trong là 60 túi nilon (48 túi màu xanh, 12 túi màu hồng) chứa 11.217 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 1.144,1 gam, trích mỗi túi 05 viên (300 viên) khối lượng 30,06 gam làm mẫu trưng cầu giám định, đánh ký hiệu từ X1 đến X60.

- Kết luận giám định số: 173/KL-KTHS ngày 02/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La: “Mẫu ký hiệu từ X1 đến X60 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 30,06 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1.144,1 gam, loại Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo Lù A X tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với số lượng và khối lượng ma túy thu giữ; Phù hợp lời khai của ông Vì Văn Hạnh, trú tại bản Lùn, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Lù A X; Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lù A X phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La quyết định truy tố bị cáo Lù A X về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại thời điểm phạm tội của bị cáo được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, do Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định về tội Mua bán trái phép chất ma túy, có sự thay đổi về khối lượng ma túy và mức hình phạt áp dụng. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 theo hướng có lợi đối với bị cáo để xét xử về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy, được quy đinh tại Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Lù A X thực hiện hành vi phạm tội với khối lượng ma túy mua bán trái phép là 1.144,1 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Lù A X là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển để bán lại ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo có 02 tiền án về tội phạm ma túy đã được xóa án tích, nhưng do hám lợi coi thường pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, bị cáo mua bán trái phép 1.144,1 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự:

Nhân thân bị cáo Lù A X là nhân thân xấu đã 02 lần bị kết án về tội phạm ma túy mặc dù đã đương nhiên được xóa án tích nhưng do hám lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm đặc biệt nguy hiểm.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lù A X không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo: Tính chất, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy mua bán trái phép của bị cáo trong vụ án. Xét thấy cần lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Luật sư người bào chữa cho bị cáo, bị cáo. Mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung, phục vụ tình hình chính trị địa phương và công tác phòng chống tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo Lù A X còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình làm nông nghiệp, không có tài sản thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy và các đối tượng có liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ trong vụ án, Lù A X khai là của một người đàn ông dân tộc tên là Tềnh nhà ở bản Ta Điếng, huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La đã có Công văn gửi Công an tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào đề nghị điều tra, xác minh và cung cấp tài liệu. Tuy nhiên, đến nay chưa có công văn trả lời, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi có đầy đủ căn cứ chứng minh đối với người đàn ông tên là Tềnh về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với hai người đàn ông đi ô tô đến nhận ma túy của X, X không biết họ tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã xác minh đối với chủ xe ô tô xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, ngoài lời khai của bị cáo ra không có căn cứ nào khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án đối với 02 người nhận ma túy của bị cáo.

Về vật chứng, tài sản liên quan đến vụ án:

Đối với số ma túy Methamphetamine (còn lại sau khi trích mẫu giám định) cùng 48 túi nilon màu xanh và 12 túi nilon màu hồng, 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen, viền xanh có quai đeo, 01 vỏ bọc nilon màu đen, 02 vỏ bánh hình chữ nhật có vỏ nilon màu vàng quấn và giấy màu vàng, các mảnh và giấy màu trắng cùng vỏ giấy trắng gồi niêm phong ban đầu; 01 bao tải dứa màu hồng hiện không còn giá trị sử dụng. Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu OPPO, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu Mastell, màu tím có bàn phím, đã qua sử dụng. Xét đây là điện thoại của bị cáo được sử dụng để liên lạc với người bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe máy BKS 30X1 - 6476, 01 đăng ký mô tô xe máy thu giữ của bị cáo và tạm giữ trong quá trình điều tra. Qua điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản chung duy nhất của 02 hai vợ chồng bị cáo, ngoài ra không có tài sản gì khác có giá trị, chị Lá không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Lù A X. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên trả lại chiếc xe máy cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Tráng Thị L.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Inteli, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định bị cáo Lù A X không sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lù A X là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo thuộc đối tượng được miễn án phí, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lù A X.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của tố tụng, vận dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025:

Tuyên bố bị cáo Lù A X, tên gọi khác Lù A S; phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lù A X 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 27/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lù A X được quy định tại khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên xử lý vật chứng vụ án và tài sản liên quan đến vụ án theo (hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 20 phút ngày 08/01/2026 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La) như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 1.114,04 gam Methamphetamine cùng 48 túi nilon màu xanh, 12 túi nilon màu hồng, 01 túi vải thổ cẩm màu đỏ đen, viền xanh có quai đeo, 01 vỏ bọc nilon màu đen, 02 vỏ bánh hình chữ nhật và các mảnh vỏ nilon, vỏ giấy gói ban đầu được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông vật chứng có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La có số seri 0022568, 0022569, 0022570; 01 (Một) bao tải dứa màu hồng, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động kiểu nhãn hiệu OPPO, loại màn hình cảm ứng và màu xanh, đã qua sử dụng (thu giữ của Lù A X); 01 (Một) điện thoại di động nhân hiệu Mastell, màu tím có bàn phím, đã qua sử dụng (thu giữ của Lù A X).

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tráng Thị L: 01 (Một) xe máy nhân hiệu Honda RSX, màu sơn: đỏ đen bạc, biển kiểm soát: 30X1 6476, số khung: RLHJC432XAY071550, số máy: JC43E5524338, không có gương trái, không có hộp xích, xe đã qua sử dụng. Kèm theo 01 (Một) đăng ký mô tô xe máy (biển kiểm soát 30X1-6476) số 002530 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 12/7/2011 mang tên Nguyễn Văn Thêm.

- Trả lại cho bị cáo Lù A X: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu inteli, màu xanh loại có bàn phím, đã qua sử dụng (thu giữ của Lù A X).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lù A X.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/02/2026).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Tráng Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/02/2026) về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình đã được tuyên./.

Cỡ chữ