vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Đặng Tiến D 38 (ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tiến D - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS-ST
Ngày: 24/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lợi

Ông Thái Thiên Lương

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Linh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2026/TLST - HS ngày 09 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2026/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Đặng Tiến D, sinh ngày 25/9/1998 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Đ, xã K, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Xuân K, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1978; vợ: Hồ Thị B, sinh năm 2002, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/5/2020 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Công an xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (cũ) xử phạt hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 05/5/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/10/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 30/10/2025, Công an xã K phối hợp với Đồn Biên phòng C tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến đường H, thuộc thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị phát hiện Đặng Tiến D đang đi bộ trên đường theo hướng từ xã K đến xã K, tỉnh Quảng Trị có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác phía trước, bên trái D đang mặc trên người có 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa 08 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược. Đặng Tiến D khai nhận số viên nén trên là ma túy tổng hợp, dạng hồng phiến, lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; tạm giữ vật chứng và đồ vật liên quan. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Tiến D tại thôn Đ, xã K, tỉnh Quảng Trị: Không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tại bản kết luận giám định số: 1577/KL-KTHS 03/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,82 gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Đặng Tiến D khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/10/2025, do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy loại hồng phiến nên D đã đi nhờ xe máy của một người phụ nữ không quen biết để đến xã K, tỉnh Quảng Trị tìm người để mua ma túy. Khi đến Ngã ba pheo thuộc thôn B, xã K, D xuống xe đi bộ về hướng xã P, tỉnh Quảng Trị khoảng 100 mét thì gặp một người đàn ông lạ mặt ngồi trên vị trí ghế lái của xe tải đang dừng bên đường nên D hỏi có ma túy bán không thì người này nói có ma tuý bán. Người đàn ông đó đưa cho D 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa các viên ma túy loại hồng phiến, D cất số ma túy này vào túi áo khoác phía trước, bên trái D đang mặc và đưa cho người đàn ông này 800.000 đồng. D đi bộ trên đường H xin xe qua đường về xã K thì bị bắt quả tang.

Vật chứng vụ án: Một túi giấy niêm phong, ký hiệu “MT1577”, mép túi giấy được dán kín bằng băng keo niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong chứa: số ma tuý và bao gói sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSKV2 ngày 09 tháng 02 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị truy tố bị cáo Đặng Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị đã phát biểu lời luận tội, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Đặng Tiến D đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đề nghị xử phạt Đặng Tiến D từ 38 tháng đến 44 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu “MT1577” mép túi giấy được dán kín bằng băng keo niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong chứa số ma túy và bao gói sau giám định.

Ý kiến bị cáo Đặng Tiến D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để cải tạo sớm được trở về giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Tiến D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã K, tỉnh Quảng Trị lập ngày 30/10/2025 phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 30/10/2025, Công an xã K phối hợp với Đồn Biên phòng C tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến đường H, thuộc thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị phát hiện Đặng Tiến D đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng lại để kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác phía trước, bên trái D đang mặc có 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa 08 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, bị cáo khai nhận số viên nén trên là ma túy tổng hợp, dạng hồng phiến, lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định. Theo kết luận giám định số 1577/KL-KTHS 03/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,82 gam. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Tiến D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, gây nên những hậu quả xấu về nhiều mặt, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo Đặng Tiến D là người đã trưởng thành, có nhận thức xã hội nhưng do thiếu ý thức, xem thường pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác, nhân thân đã 01 lần bị Công an xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình (cũ) xử phạt vi phạm hành chính vì hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm và cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Hiện bị cáo Đặng Tiến D đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Q đã thu giữ vật chứng chuyển theo vụ án để xử lý gồm: 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu “MT1577” mép túi giấy được dán kín bằng băng keo niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong chứa số ma túy và bao gói sau giám định. Xét thấy, vật chứng là ma tuý thu giữ thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.

Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông bán ma túy cho Đặng Tiến D ở khu vực xã K, tỉnh Quảng Trị, tuy nhiên do D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đó cũng như biển kiểm soát nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh đối tượng trên. Đối với người phụ nữ đã chở D từ xã K, tỉnh Quảng Trị đến Ngã ba pheo thuộc thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị, D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, đây là lần đầu tiên gặp và đi nhờ xe đó nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh đối tượng trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quá trình điều tra, Đặng Tiến D dương tính với ma tuý loại Methamphetamine. Tuy nhiên, hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã chuyển hồ sơ và tài liệu liên quan đến hành vi trên đến Công an xã K, tỉnh Quảng Trị để tiến hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Đặng Tiến D 38 (ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/10/2025.

Tiếp tục tạm giam Đặng Tiến D 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2026) để đảm bảo thi hành án.

3. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 túi giấy niêm phong, ký hiệu “MT1577” mép túi giấy được dán kín bằng băng keo niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, bên trong chứa số ma túy và bao gói sau giám định.

(Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 02 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Trị.)

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đặng Tiến D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2026) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ