- Tranh chấp gì? án hình sự — "BPK - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Phi K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2026/HS-ST Ngày: 10-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Dài
2. Bà Võ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11- Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Phi K, sinh năm 1981 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ 18, ấp A, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Bùi Văn H, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Trần Thị K1 sinh năm 1948 (đã chết); Vợ tên: Lê Thị C; Con có 03 người lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 (nạn nhân chết).
Người đại diện hợp pháp của Ông T:
- Nguyễn Thúy Ph, sinh năm: 1981.
- Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà Nguyễn Thúy Ph ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh Nh theo văn bản ủy quyền ngày 23/5/2025) ông Nh có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Phi K, có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định. Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 15/5/2025, tại Km 83-600, Quốc lộ 30, thuộc ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Bùi Phi K, điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-073.XX chạy hướng Hồng Ngự đi Cao Lãnh, khi đến đoạn đường nêu trên, do thiếu chú ý quan sát, lấn trái hướng đi va chạm vào xe mô tô biển số 66N1-064.XX do ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp điều khiển chạy cùng chiều phía trước đang chuyển hướng từ lề phải sang lề trái hướng đi. Hậu quả: Ông T tử vong.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 533 ngày 18/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Văn T bị chấn thương nặng vùng đầu gây nức, vỡ xương sọ dẫn đến não phù, dập và xuất huyết.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông nằm trên Quốc lộ 30, đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ tim đường, chiều rộng mặt đường 7 mét.
Tại bản kết luận số 1349 ngày 05/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:
+ Hệ thống dấu vết trầy xước, gãy vỡ, móp thụng tại vị trí cản trước đầu xe của xe ô tô tải biển số 66C-073.XX phù hợp với hệ thống dấu vết trượt xước, nứt vỡ, cong vào trong tại vị trí yếm chắn gió bên trái, cần sang số của xe mô tô biển số 66N1-064.XX.
+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải biển số 66C-073.XX với xe mô tô biển số 66N1-064.XX trên mặt đường là trước vết cày (ký hiệu số 1) và thuộc phần đường bên trái theo hướng Hồng Ngự đi Cao Lãnh.
+ Vết cày (ký hiệu số 1) có chiều hướng Hồng Ngự đi Cao Lãnh phù hợp với quá trình sau va chạm xe mô tô biển số 66N1-064.XX ngã cày trượt trên mặt đường tạo nên.
Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 15/5/2025 của Bệnh viện quốc tế Tâm Trí Hồng Ngự cho kết quả không phát hiện nồng độ cồn trong máu đối với Bùi Phi K.
Đối với 01 xe ô tô tải biển số 66C-073.XX, nhãn hiệu DOTHANH, loại xe: Tải có mui, màu sơn: xanh do bị can Bùi Phi K đứng tên chủ sỡ hữu. Cơ quan điều tra đã trao trả cho K.
Đối với 01 xe mô tô biển số 66N1-064.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVES, màu sơn: Đỏ-Đen-Bạc do Nguyễn Văn T đứng tên. Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1983, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân T. và không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Phi K đã thỏa thuận bồi thường với ông Nguyễn Thanh Nh là đại diện hợp pháp của bị hại chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng và các chi phí hợp lý khác với tổng số tiền là 84.404.000 đồng. Bị cáo K đã bồi thường như thỏa thuận xong và ông Nh có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra Bị cáo K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi cùng các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSKV11 ngày 17/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Phi K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Phi K với mức án 01 (một) năm – 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 36 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không có;
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K đã thỏa thuận bồi thường xong, gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm.
Về xử lý vật chứng:
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho K.01 xe ô tô tải biển số 66C-073.XX, nhãn hiệu DOTHANH, loại xe: Tải có mui, màu sơn: xanh do bị cáo Bùi Phi K đứng tên chủ sỡ hữu.
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1983, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân T. 01 xe mô tô biển số 66N1-064.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVES, màu sơn: Đỏ-Đen-Bạc do Nguyễn Văn T đứng tên.
Trong phần tranh luận bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để bị cáo có thể tiếp tục lao động nuôi các con chưa thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11- Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Bùi Phi K đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 49/CT-VKSKV11 ngày 17/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11-Đồng Tháp là đúng với hành vi của Bị cáo K. bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-073.XX chạy hướng Hồng Ngự đi Cao Lãnh, khi đến đoạn đường nêu trên Ông T chuyển hướng đột ngột về làn đường bên trái, do phản ứng và xử lý tình huống không kịp nên bị cáo lấn trái hướng đi va chạm vào xe mô tô biển số 66N1-064.XX do ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp dẫn đến hậu quả làm Ông T tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi bị cáo đã vi phạm khoản 19 Điều 8 và Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Do đó Viện kiểm sát Khu vực 11- Đồng Tháp truy tố Bị cáo K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
………………………;
5. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Xét hành vi của bị cáo Bùi Phi K, khi thực hiện tội phạm là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã được học tập và đã được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo đã thiếu quan sát, chuyển hướng sai quy định và không đảm bảo an toàn giao thông nên đã xảy ra va chạm với phương tiện khác khi đang lưu thông. Đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong cho phía gia đình của người bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin bãi nại; về nhân thân, bị cáo có ông nội là Bùi Văn H1 là người có công với cách mạng, được nhà nước công nhận người có công và được hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng; bị cáo là bộ đội xuất ngũ bị cáo đang là lao động chính trong gia đình đang nuôi 03 con chưa thành niên. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo Bùi Phi K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời, tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động để trở thành công dân tốt và là người có ích cho gia đình, xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Phi K đã bồi thường tiền viện phí, chi phí mai táng và các chi phí khác với số tiền 84.404.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại T đã nhận đủ số tiền 84.404.000 đồng và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự, gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho K 01 xe ô tô tải biển số 66C-073.XX, nhãn hiệu DOTHANH, loại xe: Tải có mui, màu sơn: xanh do bị cáo Bùi Phi K đứng tên chủ sỡ hữu.
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1983, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân T. 01 xe mô tô biển số 66N1-064.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVES, màu sơn: Đỏ-Đen-Bạc do ông Nguyễn Văn T đứng tên.
Về án phí: Bị cáo Bùi Phi K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 49/CT-VKSKV11 ngày 17/01/2026 và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
Bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Phi K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Bùi Phi K 01(một) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 10/02/2026).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Phi K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách án treo mà bị cáo Bùi Phi K phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Bùi Phi K phải chấp hành bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự
Trong trường hợp bị cáo Bùi Phi K thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Không có.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K đã khắc phục hậu quả xong, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm. Nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho K.01 xe ô tô tải biển số 66C-073.XX, nhãn hiệu DOTHANH, loại xe: Tải có mui, màu sơn: xanh do bị cáo Bùi Phi K đứng tên chủ sỡ hữu.
+ Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1983, ngụ ấp 2, xã AH, tỉnh Đồng Tháp là người đại diện hợp pháp cho nạn nhân T. 01 xe mô tô biển số 66N1-064.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVES, màu sơn: Đỏ-Đen-Bạc do ông Nguyễn Văn T đứng tên.
5. Về án phí: Bị cáo Bùi Phi K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Bùi Phi K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2026). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Dài – Võ Thị Thủy
Huỳnh Anh Thư
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND Khu vực 11-Đồng Tháp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Văn Dài – Võ Thị Thủy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Anh Thư THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Anh Thư |