vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 27/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) phạm tội: “Sử d ng trái phép

chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) 02 (hai) năm tù; Thời hạn chấp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn Thanh L - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) phạm tội: “Sử d ng trái phép
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự
KHU VỰC 11-GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thu Vân và bà Phạm Xuân Đào

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

11-An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang tham gia phiên toà: Ông Dương Duy Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại tr s Tòa án nhân dân khu vực 11- An

Giang, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 05/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa v án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2026/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:

Hồ Văn Thanh L (Thủ), số căn cước công dân 089088015409, sinh ngày

03/01/1988, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp A, xã L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo, quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, vợ là Nguyễn Thị Bích L1, có 02 người con;

Tiền án: không;

Tiền sự: Ngày 13/07/2025, bị Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang ra

Quyết định quản ý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú.

Bị cáo bị b t tạm giam t ngày 14/11/2025, tại Phân trại tạm giam C –

thuộcTrại tạm giam số 01 Công an tỉnh A. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn L2,

số căn cước công dân 089087013037, sinh ngày 05/12/1987; địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh An Giang; có mặt.

Người làm chứng:

1) Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh An Giang;

v ng mặt;

2) Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh An

Giang; v ng mặt;

3) Ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh An Giang;

v ng mặt;

4) Ông Nguyễn Thiện T2, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã L, tỉnh An

Giang; v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

v án được tóm t t như sau:

Ngày 12/7/2024, Hồ Văn Thanh L (Thủ) bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện

C, tỉnh An Giang (nay là xã L, tỉnh An Giang) quyết định cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng, trong thời hạn 12 tháng, do có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Ngày 12/7/2025, L chấp hành xong quyết định. Đến ngày 13/7/2025, Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang, quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy đối với L tại nơi cư trú thuộc khu vực ấp A, xã L t ngày 13/7/2025 đến ngày 13/7/2026. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/8/2025, nhận được tin báo của người dân, L có biểu hiện loạn thần, đốt quần áo nguy cơ cháy nhà, lực lượng Công an xã L tổ chức dập lửa và mời L về tr s xét nghiệm chất ma túy, ghi nhận L dương tính với Methamphetamine. Tại đây, L khai nhận ngày 03/8/2025, L mua ma túy của người thanh niên (không rõ nhân thân) về một mình sử d ng. Ngoài ra, ngày 31/7/2025 L còn sử d ng ma túy chung Nguyễn Văn L2, ng cùng ấp tại nhà của L một lần. Sau khi sử d ng xong, L2 đem nỏ và bình sử d ng ma túy ném xuống sông.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo bằng kim loại của L.

Kết luận giám định số 212/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của Phòng K -

Công an tỉnh A: Mẫu nước tiểu của Hồ Văn Thanh L có chứa thành phần ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn L2 không phát hiện thành phần các chất ma túy và các chất chuyển hóa t ma túy.

Cáo trạng số 51/CT-VKSKV11 ngày 30 tháng 01 năm 2026, của Viện

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang truy tố Hồ Văn Thanh L (Thủ) về tội “Sử d ng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như

nội dung trạng.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy

tố như trạng.

Căn cứ vào tính chất v án, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- d ng: điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều

38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025, xử phạt bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) t 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Áp d ng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng

hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại;

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã

được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng: Đối với hành vi, quyết định tố t ng của Điều tra

viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa bị cáo khai

nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra c ng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, m c đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ v án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 13/7/2025, Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh An Giang, quyết định quản

lý sau cai nghiện ma túy đối với L tại nơi cư trú thuộc khu vực ấp A, xã L t ngày 13/7/2025 đến ngày 13/7/2026. Ngày 03/8/2025, bị cáo L có biểu hiện loạn thần, đốt quần áo nguy cơ cháy nhà, lực lượng Công an xã L tổ chức dập lửa và mời L về tr s xét nghiệm chất ma túy, ghi nhận L dương tính với Methamphetamine. Tại đây, L khai nhận ngày 03/8/2025, L mua ma túy của người thanh niên (không rõ nhân thân) về một mình sử d ng. Theo kết luận giám định Mẫu nước tiểu của Hồ Văn Thanh L có chứa thành phần ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Sử d ng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 có khung hình phạt t 02 năm đến 03 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến

chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hư ng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử nghiêm mới có tác d ng giáo d c, răn đe và phòng ng a chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm tr ng của tội phạm, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, nhận thấy: Bị cáo là người trư ng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi sử d ng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra c ng như

tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình

tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất của v án là nghiêm tr ng, hiện tại trên địa bàn các tội phạm

về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và làm phát sinh các tội phạm khác. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác d ng giáo d c cải tạo bị cáo tr thành công dân tốt có ích cho xã hội. Xét thấy mức hình phạt tù có thời hạn mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nên đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người bán ma túy cho L và L2, không rõ nhân thân, cơ quan

cảnh sát điều tra tiếp t c làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật; Nguyễn Văn L2 khai, trước đó L2 cùng L tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy vào ngày 31/7/2025. Ngoài lời khai của L2, không thu giữ được vật chứng nên không có căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự đối với L, L2 về lần tổ chức sử d ng trá phép chất ma túy này.

Về vật chứng: Đối với: 01 cây kéo bằng kim loại, Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an tỉnh A đã thu giữ là vật dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử d ng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) phạm tội: “Sử d ng trái phép

chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51,

Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025:

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn Thanh L (Thủ) 02 (hai) năm tù; Thời hạn chấp

hành hình phạt tù được tính ngày b t, tạm giam (ngày 14/11/2025).

2. Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình

sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại (Vật tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao vật chứng ngày 25/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố t ng hình sự 2015; Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Văn Thanh L (T3) phải chịu 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án có mặt có quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Đương sự v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ