vanban.org

Bản án 18/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 06/02/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.

Tuyên bố: Bị cáo Tôn Thị Mỹ N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, khoản 1 Điều 38, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tôn Thị Mỹ N - “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS-PT
Ngày: 06/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình

Các Thẩm phán: 1. Ông Võ Thái Sơn

2. Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2026/TLPT-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Tôn Thị Mỹ N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2025/HS – ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Tôn Thị Mỹ N, sinh ngày 24/01/1971 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp P, xã N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Tôn Văn H, sinh năm 1951 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953; gia đình có 06 anh, chị em và bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có chồng là Nguyễn Quốc K, sinh năm 1966; có 01 người con, sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trương Đại T (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trương Thị M, sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 15/12/2024, Tôn Thị Mỹ N cùng chồng là ông Nguyễn Quốc K đến xã N, thành phố Cần Thơ để làm vườn. Đến chiều tối, do ông K đã uống rượu nên N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83C1-007.19 chở ông K về phường S. N điều khiển xe mô tô từ xã N theo tuyến Quốc lộ F hướng từ xã Đ về phường S. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, N thấy chiếc ô tô (không nhớ biển kiểm soát) phía trước chạy chậm lại nên N đã chuyển hướng sang bên trái. Cùng lúc này, xe mô tô biển kiểm soát 83H5- 1283 do ông Trương Đại T điều khiển đang chạy phần đường bên trái hướng đi chuyển của N nên xảy ra tai nạn. Hậu quả làm ông T tử vong tại hiện trường, N và ông K đều bị thương và được đưa đi cấp cứu. Phòng C Công an tỉnh S (nay là Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C) đến hiện trường, nhận thấy có người chết nên đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 215/KLGĐTT-KTHS ngày 25/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S (nay là Công an thành phố C) kết luận nguyên nhân tử vong của ông Trương Đại T như sau: Trên cơ thể nạn nhân có nhiều vết thương; hộp sọ bị nứt không rõ hình ở vùng thái dương bên phải; bầm tụ máu ở hai bán cầu đại não; tổ chức não phù; mặt cắt nhu mô não bị xuất huyết rải rác. Nguyên nhân tử vong do chấn thương sọ não.

Tại kết bản luận định giá tài sản số: 02/KL.HĐĐG ngày 07/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện L kết luận: Các bộ phận thiệt hại của xe mô tô 83H5-1283 trị giá 493.000 đồng.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 16/12/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh S xác định: nồng độ cồn trong máu của Trương Đại T là 194 miligam/100 mililít máu.

Từ những dấu vết để lại tại hiện trường, trên phương tiện giao thông và kết quả điều tra xác định: Vị trí hai xe va chạm là bên phần đường bên phải của xe bị hại Trương Đại T điều khiển. Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông trên do lỗi của bị cáo điều khiển xe di chuyển không đúng phần đường quy định (lấn sang phần đường bên trái) dẫn đến vụ tai nạn giao thông, hậu quả làm bị hại chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Về vật chứng của vụ án:

+ 01 xe mô tô biển số 83C1-007.19, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra hành Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số 876/QĐ-ĐTTH ngày 15/12/2024. Quá trình xác minh xác định xe mô tô biển số biển số 83C1-007.19 này là do bà Tôn Thị Mỹ T1 là em ruột bị cáo N đứng tên chủ xe, do không có nhu cầu sử dụng xe nên bà T1 đã cho bị cáo sở hữu chiếc xe này nhưng chưa sang tên chủ sở hữu xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là Tôn Thị Mỹ N.

+ 01 xe mô tô biển số 83H5-1283, nhãn hiệu Wave, màu xanh đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Quá trình xác minh xác định xe mô tô này là do ông Trương Văn L1 là cậu ruột của bị hại T đứng tên chủ xe, do không có nhu cầu sử dụng xe nên ông L1 đã cho T sở hữu chiếc xe này nhưng ông T chưa làm thủ tục sang chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản trên cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trương Thị M.

Tại Bản án hình sự số 45/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Tôn Thị Mỹ N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; khoản 1 Điều 38; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Tôn Thị Mỹ N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, bị cáo Tôn Thị Mỹ N kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo có cung cấp thêm biên lai nộp số tiền khắc phục hậu quả là 130.000.000 đồng (bồi thường tổn thất về tinh thần) cho gia đình bị hại tại Thi hành án Cần Thơ.

Đại diện hợp pháp của bị hại - bà Trương Thị M có mặt tại phiên tòa có ý kiến: Bà M thống nhất với việc bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại là 130.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét. Về nội dung, việc bị cáo điều khiển xe mô tô chạy lấn sang phần đường bên trái thiếu quan sát va chạm với người bị hại Trương Đại T làm bị hại chấn thương nặng dẫn đến tử vong. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo có cung cấp thêm chứng cứ mới là biên lai nộp tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại. Bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, có nhiều thành tích trong quá trình công tác, có nơi cư trú rõ ràng. Tại phiên tòa đại diện bị hại cũng thống nhất với số tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 130.000.000 đồng và có xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đại diện bị hại và bị cáo tại phiên tòa, xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào sáng ngày 15 tháng 12 năm 2024, bị cáo Tôn Thị Mỹ N cùng chồng là ông Nguyễn Quốc K đến xã N để làm vườn. Đến chiều tối cùng ngày, do ông K đã uống rượu nên bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 83C1-007.19 chở ông K về phường S. Khi đến khu vực ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, bị cáo thấy xe ô tô (không nhớ biển kiểm soát) phía trước chạy chậm nên bị cáo đã chuyển hướng sang bên trái. Cùng lúc này xe mô tô biển kiểm soát 83H5-1283 do bị hại Trương Đại T điều khiển đang chạy phần đường bên trái hướng di chuyển của bị cáo nên xảy ra tai nạn. Hậu quả làm ông T tử vong tại hiện trường, bị cáo và ông K đều bị thương và được đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 215/KLGĐTT-KTHS ngày 25/12/2025 của phòng K1 Công an tỉnh S (nay là Công an thành phố C) kết luận nguyên nhân tử vong của ông T: chấn thương sọ não. Tại phiếu xét nghiệm ngày 16/12/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh S xác định: nồng độ cồn trong máu của ông T là 194 mg/100 ml máu.

Việc bị cáo điều khiển xe mô tô thiếu quan sát khi rẽ trái dẫn đến tai nạn làm người bị hại Trương Đại T tử vong là lỗi của bị cáo (lỗi vô ý). Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án là 06 (sáu) tháng tù là phù hợp. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền là 85.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường thêm 150.000.000 đồng bồi thường tổn thất về tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất với bản án sơ thẩm nên không kháng cáo.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo cũng bị thương tích nặng trong vụ tai nạn, hiện đang phải tập trung điều trị. Ở giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm chứng cứ mới là đã nộp số tiền 130.000.000 đồng để bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện bị hại thống nhất với số tiền 130.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường (đã nộp tại Thi hành án thành phố Cần Thơ) và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Đại diện hợp pháp bị hại cũng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời có đơn xin bãi nại và đơn đề nghị không xử lý hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết mới bị cáo đã cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm. Xét thấy bị cáo đã thể hiện thái độ tích cực trong việc khắc phục hậu quả đối với gia đình bị hại, thái độ ăn năn hối cải nên kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo là có căn cứ. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử thấy rằng cấp sơ thẩm đã chấp nhận cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ như đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều thành tích trong công tác, có nơi cư trú rõ ràng; ở giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã cung cấp thêm những tình tiết mới như đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả toàn bộ chi phí về tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị sửa án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp nên thống nhất, chấp nhận.

Những phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 45/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.

1. Tuyên bố: Bị cáo Tôn Thị Mỹ N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, khoản 1 Điều 38, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Tôn Thị Mỹ N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (06/02/2026)

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật Dân sự.

Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại - ông Trương Đại T là bà Trương Thị M với số tiền là 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng). Bị cáo đã nộp số tiền này tại Thi hành án Dân sự Thành phố Cần Thơ. Bà Trương Thị M được liên hệ với thi hành án Thành phố Cần Thơ để nhận số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).

4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ