vanban.org

Bản án 18/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Duy K được ly hôn với chị Võ Thị Diệu A. Về con: Giao người con Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/2023 cho chị Võ Thị Diệu A tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Diệu A đang nuôi con được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Duy K có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Duy K yêu cầu ly hôn với chị Võ Thị Diệu A"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8-CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 19-01-2026
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm, bà Cao Thị Lệ Pha.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8-Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 491/2025/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXX-ST, ngày 11 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1996. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp: 09/9/2022.

Địa chỉ: Ấp 13, xã KL, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Võ Thị Diệu A, sinh năm 1997. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Ấp CC, xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau.

(Anh K vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2025, trong quá trình tố tụng anh Nguyễn Duy K trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị A chung sống vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã KL, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (nay là Uỷ ban nhân dân xã K Lâm, tỉnh Cà Mau).

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm, nhiều bất đồng trong cuộc sống nên thường xuyên cãi nhau và hiện nay đã sống ly thân từ tháng 7/2025 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau.

Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng anh không còn tình cảm, tiếp tục chung sống với chị A cũng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.

Về con: Anh và chị A có một người con chung là Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/202, con sống cùng chị A từ tháng 7/2025. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh và chị A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Võ Thị Diệu A vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Ý kiến về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Năm 2022, anh K và chị A tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa anh K và chị A phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của anh K và chị A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho anh K được ly hôn với chị A là phù hợp.

Về con: Xét thấy người con Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/2023 hiện nay dưới 36 tháng tuổi và đang sống cùng chị A. Để ổn định cuộc sống của con chưa thành niên, cần giao cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Anh K không đặt ra cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản: Anh K không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân anh K nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-Cà Mau về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Duy K khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Võ Thị Diệu A, chị A có địa chỉ tại ấp CC, xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Anh K vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị A được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh K và chị A.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Năm 2022, anh K và chị A tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K Lâm, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (nay là Uỷ ban nhân dân xã KL, tỉnh Cà Mau) vào ngày 08/6/2022 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống, giữa anh K và chị A phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay anh K xác định mâu thuẫn giữa anh với chị A đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa anh K và chị A không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 7/2025 đến nay. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị A đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng chị Avắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh K và chị A đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của anh K được ly hôn với chị A là phù hợp.

. Về con: Khi ly hôn anh K có nguyện vọng được nuôi người con Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/2023.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, người con Nguyễn Tú Quyên được 33 tháng tuổi và đang sống cùng chị A.

Tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Anh K trình bày, anh biết con dưới 36 tháng tuổi thì ưu tiên cho mẹ nuôi, nhưng anh vẫn yêu cầu nuôi con vì trong thời gian chị A nuôi con, chị A không quan tâm, chăm sóc con chu đáo, thường la mắng con; chị A hiện nay làm công nhân, thu nhập không ổn định, không đảm bảo điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, anh không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ xem xét lời trình bày của anh K.

Hội đồng xét xử xét thấy, để ổn định cuộc sống của con chưa thành niên, cần giao người con Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/2023 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.

Anh K không đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Trường hợp trong thời gian chị A nuôi con, nếu anh K có căn cứ cho rằng chị A không đảm bảo việc nuôi con thì có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

. Về tài sản: Anh K không yêu cầu nên không xem xét.

. Về án phí: Anh K nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Duy K được ly hôn với chị Võ Thị Diệu A.

2. Về con: Giao người con Nguyễn Tú Q, sinh ngày 18/4/2023 cho chị Võ Thị Diệu A tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Võ Thị Diệu A đang nuôi con được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Duy K có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Duy K không đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản: Anh Nguyễn Duy K không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân anh Nguyễn Duy K nộp 300.000 đồng, anh Nguyễn Duy K đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003258 vào ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ