- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy Lỳ Lò Xó - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung:
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n KHU VỰC 4 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HSST Ngày 28/08/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lù Thanh Xá
2. Bà: Lý Thị The
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/HSST, ngày 29 tháng 07 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 15/08/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lỳ Lò X
Sinh năm: 1983, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu).
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 00/12; Dân tộc: La Hủ;
Tôn giáo: Không;
Giới tính: Nữ;
Quốc tịch:Việt Nam
Con ông: Lỳ Lỳ X (đã chết) và con bà: Pừ Khù P (sinh năm 1934) hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu).
Gia đình bị cáo có 08 chị, em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình;
Chồng, con: Chồng Chu Xạ H - Sinh năm 1982. Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2013.
Hiện chồng, con bị cáo đang sinh sống tại bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu).
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/04/2025, đến ngày 27/04/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Mường Tè thuộc trại giam Công an tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông: Lê Mạnh Hùng - Trợ giúp viên pháp lý
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên toà).
*Người phiên dịch cho bị cáo: Bà: Sừng Mì Ché - Sinh năm 1995
Trú tại: Bản Huổi Han, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 24/04/2025, Lỳ Lò X đi làm ruộng về đến đầu bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu) thì gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) có biểu hiện là người nghiện ma túy. Qua trao đổi X đã mua được 01 gói Hêrôin được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng với người đàn ông trên. Sau khi mua được Hêrôin X cất giấu gói Hêrôin vào vỏ gói mì tôm nhãn hiệu KOKOMI rồi cho vào ngăn nhỏ của túi thổ cẩm màu đỏ đang đeo trên người và đi bộ về nhà.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến gần nhà tại bản Tá Bạ, xã Tá Bạ (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu) thì bị tổ công tác Công an xã Tá Bạ phát hiện bắt quả tang. Trong quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 01 gói ma túy được Lỳ Lò X cất giấu trong túi vải thổ cẩm đeo trên người. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và mời người chứng kiến và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 25/04/2025 xác định khối lượng gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lỳ Lò X có tổng khối lượng 0,19 (không phẩy mươi chín) gam gửi toàn bộ đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 340/KL-KTHS ngày 26/04/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột khô màu trắng có khối lượng 0,19 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroin có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS -KV4 ngày 28 tháng 07 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố bị cáo Lỳ Lò X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…….
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lỳ Lò X theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng 0,19 gam là heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điều 50; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 14 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) và đề nghị xử lý vật chứng như sau: 01phong bì Công văn do Công an xã Tá Pạ phát hành, các mép dán kín (bên trong là vật chứng còn lại vụ án Lỳ Lò X); 01 túi thổ cẩm có dây đeo màu đen; 01 vỏ gói mì tôm có nhãn hiệu KOKOMI cần tịch thu tiêu hủy.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đã đưa ra một số luận cứ bào chữa cho bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bÞ c¸o, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
* Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được nghe đọc lại và tự nguyện điểm chỉ và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,19 (không phẩy mươi chín) gam heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét qúa trình tham gia tố tụng của người bào chữa cho bị cáo tiến hành đều hợp pháp, xét quan điểm bào chữa của bào chữa viên HĐXX thấy rằng việc đề xuất áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51BLHS đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt chưa phù hợp cần có một hình phạt cao hơn mức đề xuất của người bào chữa. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bÞ c¸o, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo và miễn án phí cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 340/KL-KTHS ngày 26/04/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo X gửi giám định là ma túy, loại Heroin. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Hồi 19 giờ ngày 24/04/2025, tại bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu) Lỳ Lò X đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói heroine có khối lượng 0,19 gam, với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lỳ Lò X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không đi học nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự,với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương, coi thường pháp luật. Với khối lượng ma túy 0,19 gam của bị cáo tàng trữ để sử dụng việc đề nghị của VKS áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù, HĐXX xét thấy phù hợp cần chấp nhận đề nghị của VKS, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Không có
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Đối với gói heroine thu giữ khi bắt quả tang bị cáo X có khối lượng 0,19 gam: Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định không hoàn lại mẫu vật theo đúng quy định của pháp luật.
- Vật chứng còn lại: 01phong bì Công văn do Công an xã Tá Pạ phát hành, các mép dán kín (bên trong là vật chứng còn lại vụ án Lỳ Lò X); 01 túi thổ cẩm có dây đeo màu đen; 01 vỏ gói mì tôm có nhãn hiệu KOKOMI, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Lai Châu cần tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Về án phí: HĐXX xét miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).
Trong vụ án này:
Về nguồn gốc heroine: Lỳ Lò X khai đã mua gói heroine từ một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tại bản đầu bản Tá Bạ, xã Tá Bạ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Tá Bạ, xã Pa Ủ, tỉnh Lai Châu). Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai duy nhất của X, không có tài liệu, chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết các vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/06/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS . Tuyên bố bị cáo Lỳ Lò X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 24/04/2025.
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01phong bì Công văn do Công an xã Tá Pạ phát hành, các mép dán kín (bên trong là vật chứng còn lại vụ án Lỳ Lò X); 01 túi thổ cẩm có dây đeo màu đen; 01 vỏ gói mì tôm có nhãn hiệu KOKOMI
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - NCQLNV liên quan; - Người bào chữa - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND Khu vực 4- Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu (PC03); - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4-Lai Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Đức Hiệp |