vanban.org

Bản án 18/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 28/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Ngọc D 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2025/HSST
Ngày: 29/07/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Thu.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Ông Phùng Ngọc Toàn

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Cảnh Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 07 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2025/TL - HSST ngày 23 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 07 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Ngọc D, sinh năm 1969; ĐKNKTT và nơi ở: Tân Ấp, phường Hồng Hà, Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn Xuyên (đã chết); Con bà: Vũ Thị Ninh; Vợ là Đào Thị Hồng Chuyên; Có 03 con, sinh năm 2000, 2005 và năm 2006; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/01/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. – Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987; ĐKNKTT: phường Hoàn Kiếm, Hà Nội; Nơi ở: Gia Quất, phường Long Biên, Hà Nội.; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình Tiến (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Hạnh (đã mất); Vợ là Nguyễn Thu Huyền; Có 02 con, sinh năm 2016, và năm 2021; Tiền án, tiền sự: 02 tiền án, 02 tiền sự:

- Tiền sự: 02 tiền sự năm 2008, 2012 đi cai nghiện bắt buộc, đã ngoài thời hiệu.

- Tiền án: Bản án số 233/2005/HSST ngày 15/12/2005 Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 16 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trên 50 triệu đồng (phạm tội lúc 17 tuổi 11 tháng 4 ngày). Xác minh thi hành: có hồ sơ thi hành án nhưng không có tài liệu thể hiện việc nộp tiền án phí và tiền truy thu 3.000.000 đồng. Chấp hành xong án phạt tù ngày 05/08/2006. Bị can đã được xóa án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS; Bản án số 166/2007/HSST ngày 31/05/2007 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 27/08/2007. Bị can đã được đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/01/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. – Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Lê Ngọc D và Nguyễn Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lê Ngọc D không có việc làm, thường xuyên sử dụng ma túy Heroine nên đã nảy sinh ý định mua ma túy loại Heroine về để bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2025, Dũng đi bộ một mình ra khu vực gầm cầu Long Biên, gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) 1.500.000 đồng ma túy Heroine. Sau đó, Dũng mang số ma túy trên về nhà, chia thành 15 gói Heroine bọc nylong màu trắng và sử dụng hết 01 gói, còn 14 gói Heroine, Dũng cất tại gác xép tại nhà, mục đích để bán cho người mua với giá 200.000 đồng/01 gói, được lãi 100.000đồng/1 gói.

Khoảng 6 giờ 58 phút ngày 07/01/2025 và khoảng 7 giờ 34 phút ngày 08/01/2025, Nguyễn Ngọc T sử dụng số điện thoại: 0948706087 gọi vào số 0585350371 của Dũng hỏi mua ma túy, mỗi ngày 03 gói Heroine với giá 200.000 đồng /01 gói. Dũng đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực đầu ngách 22 ngõ 133 Tân Ấp, Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội. Sau đó, 02 ngày Dũng đã bán 06 gói Heroin cho Tú và được số tiền: 1.200.000 đồng, được lãi số tiền: 600.000đồng.

Khoảng 13 giờ 00 ngày 09/01/2025, Tú gọi điện cho Dũng hỏi mua 03 gói Heroine với giá 200.000 đồng/01 gói, mục đích để sử dụng. Dũng đồng ý và hẹn Tú đến đầu ngách 22 ngõ 133 Tân Ấp, phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội để giao dịch. Sau đó, Tú đi xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Feliz màu xanh BKS: 29H2 – 52520 đến điểm hẹn và gọi điện cho Dũng. Dũng lấy 03 gói Heroine cất giấu tại gác xép và đi bộ ra điểm hẹn để gặp Tú. Tại đây, Tú đã đưa cho Dũng 600.000 đồng để mua 03 gói Heroine. Dũng cầm tiền và đưa cho Tú 03 gói Heroine sau đó đi về nhà. Tú cầm 03 gói Heroin cất vào túi áo phía ngoài bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi Tú đi đến khu vực cửa khẩu chợ Long Biên, phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy - CAQ Ba Đình kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 03 gói Heroine bọc nylong màu trắng. Tú khai mục đích để sử dụng. Sau đó cơ quan công an đã đưa Tú cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ. Lê Ngọc D đầu thú về hành vi bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T và tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an 01 hộp thuốc lá Thăng Long bằng sắt đựng 05 gói bọc nylong bên trong chứa chất bột màu trắng. Dũng tự khai nhận là Hêrôine.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Ngọc T (BL: 129): 03 (ba) gói bọc nylong màu trắng chứa chất bột màu trắng; Tiền Việt Nam: 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, đã cũ; 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu Vinfast Feliz màu xanh, BKS: 29H2 – 525.20, đã qua sử dụng.

* Vật chứng thu giữ của Lê Ngọc D (BL: 160): 01 (một) hộp thuốc lá Thăng Long bằng sắt đựng 05 (năm) gói bọc nylong màu trắng chứa chất bột màu trắng; Tiền Việt Nam: 600.000 đồng, Dũng khai nhận là tiền bán ma túy cho Tú mà có; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh, đã cũ.

Tại bản kết luận giám định số 747 ngày 18/01/2025 của Phòng PC09 - CATP Hà Nội, kết luận (BL: 165):

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Ngọc T: Chất bột màu trắng bên trong 03 gói bọc nylong màu trắng đều là ma túy loại heroine, tổng khối lượng 0,340 gam.

* Vật chứng thu giữ của Lê Ngọc D: Chất bột màu trắng bên trong 05 gói bọc nylong màu trắng đều là ma túy loại heroine, tổng khối lượng 0,480 gam.

Đối với số ma túy thu giữ của Lê Ngọc D: Quá trình giám định cơ quan giám định thu giữ 0,020 gam ma túy loại Hêrôine, còn lại 0,460 gam ma túy ma túy loại Hêrôine hoàn trả lại cho Cơ quan điều tra.

Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Ngọc T: Quá trình giám định cơ quan giám định thu giữ 0,020 gam ma túy loại Hêrôine, còn lại 0,320 gam ma túy ma túy loại Hêrôine hoàn trả lại cho Cơ quan điều tra.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Vinfast Felix màu xanh, BKS: 29H2-52520, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của anh Phạm Minh Đức. Anh Đức là nhân viên của công ty “CTCP DI CHUYỂN XANH VÀ THÔNG MINH GSM” và được công ty bàn giao chiếc xe nhãn hiệu Vinfast Feliz màu xanh, BKS: 29H2 – 525.20 để hành nghề chở khách. Ngày 09/01/2025, Nguyễn Ngọc T có mượn chiếc xe trên của Đức để đi có việc. Anh Đức cho Tú mượn xe và không biết Tú sử dụng vào việc phạm tội. Quá tra cứu xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho người đại diện hợp pháp của công ty CTCP DI CHUYỂN XANH VÀ THÔNG MINH GSM là anh Nguyễn Đức Giang (SN:1987, HKTT: Xóm 13 Nam Tiến, Nam Trực, Nam Định. (BL: 93-118)

Toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Ngọc D, quá trình điều tra không xác định được họ, tên cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Tại cáo trạng số: 104/CT-VKS ngày 12/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội) đã truy tố bị cáo Lê Ngọc D về tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc D mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 20 đến 26 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 02 chiếc điện thoại di động và số tiền 700.000 đồng thu giữ của 02 bị cáo Dũng và Tú vì có liên quan đến hành vi phạm tội.

Các bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.

Trong phần lời nói sau cùng của: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 07/01/2025 và ngày 08/01/2025, tại đầu ngách 22 ngõ 133 Tân Ấp, Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội, bị cáo Lê Ngọc D có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroin cho Nguyễn Ngọc T mỗi lần bán 03 gói ma túy trị giá 600.000 đồng, tổng số tiền 02 ngày bán là 1.200.000 đồng, và bị cáo được hưởng lãi số tiền là 600.000 đồng. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo Lê Ngọc D: 0,480gam chất ma túy loại Heroin, Dũng khai tàng trữ để bán cho các đối tượng khác.

Khoảng 13 giờ ngày 09/01/2025, tại đầu ngách 22 ngõ 133 Tân Ấp, phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Ngọc T có hành vi cất giữ trong người 0,340 gam ma túy loại heroin với mục đích để sử dụng (là 03 gói ma túy heroin bị cáo Tú vừa mua của bị cáo Dũng) thì bị tổ công tác của Đội CSĐT TP về ma túy Công an qủa bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lê Ngọc D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là phạm tội 02 lần trở lên. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội) truy tố theo tội danh, điều luật là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, tiếp tay cho các loại tội phạm về ma túy khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Tú có 02 tiền sự năm 2008 và 2012 đã hết thời hiệu, và có 02 tiền án năm 2005 và 2007 tính đến nay đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo Tú có nhân thân xấu. Bị cáo Dũng không có tiền án tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A74 màu đen đã cũ thu giữ của bị cáo Tú và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh, đã cũ thu giữ của bị cáo Dũng là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của bị cáo Dũng là tiền do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Tú là tiền cá nhân không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Tú.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo Lê Ngọc D); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T); Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ Luật hình sự năm 2015; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Ngọc D 07 (bảy) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc T 20 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Ngọc T; 01 bao niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Lê Ngọc D.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động OPPO màu đen bên trong có 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 điện thoại di động Mastel màu xanh bên trong có 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong; và số tiền 600.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng).

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 05/KV1-2025 ngày 14/7/2025 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/7/2025.

3. Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Thu

Cỡ chữ