vanban.org

Bản án 18/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt: Bị cáo Chu Đức T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 11 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Đức Toàn tàng trữu ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST
Ngày 20-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN A - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Thư

Ông Vũ Văn Thi

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân quận A, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận A tham gia phiên toà: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Đức T, sinh ngày 04 tháng 8 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, Huyện A, thành phố Hải Phòng; nay là tổ dân phố T, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức T và bà Trần Thị H; chưa có vợ, con; nhân thân: Bản án số 31/2013/HSST ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân Huyện A xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cố ý gây thương tích (đã được xoá án tích); tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 13 tháng 11 năm 2024, chuyển tạm giam ngày 21 tháng 11 năm 2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, tổ công tác Công an xã A kết hợp Công an xã A, Huyện A làm nhiệm vụ tại thôn T, xã A, Huyện A phát hiện, bắt quả tang Chu Đức T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Toàn 01 gói giấy kích thước (2,5x1,5)cm bên trong chứa chất bột màu trắng, Toàn khai là ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa Toàn cùng vật chứng về trụ sở Công an giải quyết.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Đức T không thu giữ đồ vật liên quan đến ma túy. Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Toàn, kết quả dương tính với test thử chất ma túy Morphin/Heroine.

Kết luận giám định số 1291/KL-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Chu Đức T khai nhận: Do nghiện ma tuý nên khoảng 06 giờ ngày 13/11/2024, Toàn đi bộ từ nhà đến khu vực thôn T, xã A gặp và mua của một nam giới không quen biết một gói ma túy Heroine giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Mua xong, T cầm gói ma túy trong tay đi về nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Cáo trạng số 16/CT-VKSAD ngày 07/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận A đã truy tố bị cáo Chu Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Đức T mức án từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản và không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Huyện A và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, Chu Đức T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang tại thôn T, xã A, Huyện A (nay là phường A, quận H), Hải Phòng.

Hành vi của bị cáo Chu Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trị an ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích. Lần phạm tội này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét, bị cáo đã được cải tạo giáo dục nhưng vẫn không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội nên cần xét xử bị cáo mức án nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý còn lại sau giám định là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành và các vỏ túi nilon không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho Toàn, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt: Bị cáo Chu Đức T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 11 năm 2024.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 1291MT/PC09, bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ túi nilon.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận A, Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Chu Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ