- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá D phạm tội Chế tạo tàng trữ vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá D phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS - ST Ngày: 18/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thường và bà Lê Thị Thanh Thuỷ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 10/2025/TLST - HS ngày 25 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Bá D; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09 tháng 11 năm 1984; tại thị xã H (nay là phường T), tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn T, phường T (xã Q cũ), tỉnh Nghệ An; căn cước công dân: 040084037976; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Bá D1; sinh năm 1960; con bà Hồ Thị C; sinh năm 1961; có vợ: Lê Thị N; sinh năm 1988; có 04 con; lớn nhất sinh năm 2010; nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến 07/01/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Biết Lê Bá D có nhu cầu mua thuốc nổ để sử dụng đánh bắt cá trên biển nên một số người không rõ thông tin lai lịch, địa chỉ đã giới thiệu cho D về việc vợ chồng Đậu Thị N1 và Lê Đức T trú tại thôn T, phường T, tỉnh Nghệ An có bán thuốc nổ. Khoảng 23 giờ ngày 22/12/2024, D đi đến nhà Đậu Thị N1. Khi đến ngoài sân, D thấy cửa nhà đang mở, đèn trong nhà đang sáng, D gọi “Nghĩ ơi” thì Đậu Thị N1 đi ra ngoài gặp D. Dướng hỏi “Có thuốc nổ không?”, N1 nói “Có, lấy nhiều không?” Dướng nói “Lấy 02 bịch rưỡi thuốc nổ, 170 kíp nổ và hơn 9 mét dây”; N1 nói “Có” rồi đi vào nhà. Sau đó, N1 đi ra và xách theo 01 túi ni lông màu trắng nói với D “Hết 23 triệu”. Dướng mở ra kiểm tra sơ qua thấy có hơn 02 bịch thuốc nổ và dây cháy chậm, sau đó đưa cho Nghĩ 23 triệu đồng rồi cầm túi ni lông có chứa thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm đưa xuống tàu cá hiệu số NA-91571-TS đang neo đậu tại cảng cá Q thuộc thôn T, phường T (xã Q cũ) cất dấu dưới khoang tàu phía trước rồi đi về nhà và không nói cho ai biết.
Sáng ngày hôm sau, D xuống tàu cá lấy túi ni lông màu trắng kiểm tra lại thì thấy bên trong có 02 bao potylen màu trắng, mỗi bao đựng 10 thỏi thuốc nổ; 01 bao potylen màu trắng khác đựng 05 thỏi thuốc nổ; khoảng hơn 10m dây cháy chậm; 170 kíp nổ đốt; 06 kíp nổ điện đãn gắn dây điện màu xanh. Dướng lấy 03 thỏi thuốc nổ trong túi ni long màu trắng ra, dùng dao cắt thành 21 khúc dài khoảng 03cm, sử dụng băng dính màu trắng quấn lại tạo thành 21 thỏi thuốc nổ nhỏ. Tiếp theo, D dùng dao cắt từ dây cháy chậm ra 33 đoạn ngắn khoảng 5cm, rồi bỏ vào 33 kíp nổ đốt và dùng kìm bóp chặt đầu dây cháy chậm để cố định rồi tra 06 kíp nổ đốt đã gắn dây cháy chậm vào 06 thỏi thuốc nổ nhỏ để tạo thành vật nổ tự chế. Sau đó, D tiếp tục cất dấu số thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm và vật nổ tự chế nêu trên dưới khoang trước của tàu cá NA-91571-TS. Sáng ngày 29/12/2024, Lê Bá D cùng một số thuyền viên đang chuẩn bị công cụ trên tàu cá NA-91571-TS để đi đánh cá biển thì bị Tổ công tác Công an huyện Q cùng đồn biên phòng Q, đồn biên phòng Q1 tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ các vật chứng như đã nêu. Ngày 29/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q thành lập Hội đồng mở niêm phong vật chứng, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, xác định:
- 22 thỏi hình trụ tròn giống nhau, bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 25cm có tổng khối lượng 4,4kg, ký hiệu M1.
- 21 thỏi hình trụ tròn giống nhau, bọc giấy màu nâu, đường kính 03 cm, dài 03cm có tổng khối lượng 0,5kg, ký hiệu M2.
- có 137 thỏi kim loại hình trụ giống nhau, đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, ký hiệu M3.
- Có 33 ống kim loại màu trắng giống nhau, đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, một đầu các ống này được gắn dây màu đen dài 05cm đường kính 0,5cm, ký hiệu M4.
- Có 06 ống kim loại hình trụ tròn giống nhau, đường kính 0,6cm, dài 4,6cm; một đầu các ống này nối với hai sợi dây dẫn điện màu xanh dài 1,9cm, ký hiệu M5.
- Có 01 cuộn dây dẫn màu đen đường kính 0,5cm, tổng chiều dài 9,75m, ký hiệu M6.
Kết luận giám định số86/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 03/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“- Các mẫu vật ký hiệu M1, M2 gửi tới giám định đều là thuốc nổ công nghiệp, loại thuốc nổ Amonit AD1. Thuốc nổ công nghiệp thường được sử dụng để phá đá, mở đường hoặc khai thác khoáng sản.
- Mẫu vật ký hiệu M3 gửi tới giám định đều là kíp nổ đốt số 8. Kíp nổ được dùng để kích nổ các loại thuốc nổ.
- Mẫu vật ký hiệu M4 gửi tới giám định đều là kíp nổ đốt số 8 đã được gắn dây cháy chậm. Kíp nổ được dùng để kích nổ các loại thuốc nổ.
- Mẫu vật ký hiệu M5 gửi tới giám định đều là kíp nổ điện số 8. Kíp nổ được dùng để kích nổ các loại thuốc nổ.
- Mẫu vật ký hiều M6 gửi giám định là dây cháy chậm. Dây cháy chậm được dùng để dẫn lửa cho kíp nổ đốt.”
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Bá D thực nghiệm điều tra về quá trình chế tạo ra vật nổ tự chế, kết quả: Với những đồ vật, dụng cụ có hình dạng, đặc điểm tương tự, Lê Bá D đã tiến hành quy trình chế tạo ra vật có đặc điểm tương tự như vật nổ tự chế nêu trên.
Ngày 08/4/2025, Cơ quan Anh ninh điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung tại Phòng K Công an tỉnh N. Kết luận giám định số 213/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 12/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“Mẫu vật ký hiệu M2 kết hợp với mẫu vật ký hiệu M4 sẻ tạo thành vật nổ tự chế (kíp nổ đốt đã gắn dây cháy chậm được nhồi trong khối thuốc nổ Amonit AD1). Mẫu vật ký hiệu M2 là thuốc nổ Amonit AD1 dưới tác dụng xung kích thích tạo ra phản ứng nổ; mẫu vật ký hiệu M4 là phụ kiện nổ có tác dụng tạo xung kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ”.
Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKSNA-P1, ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Bá D về tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1, điều 305 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Bá D phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng: Khoản 1, Điều 305, Điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá D 15 -18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30-36 tháng.
Đối với Đậu Thị N1, theo lời khai của Lê Bá D là người bán vật liệu nổ cho D, Cơ quan điều tra đã ghi lời khai nhưng Nghĩ không thừa nhận. Ngoài lời khai của Lê Bá D, không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh nên không đủ căn cứ kết luận Đậu Thị N1 đã tham gia mua bán vật liệu nổ cùng Lê Bá D.
Về xử lý vật chứng:
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định số vật chứng có tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/02/2025 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh N và K1 - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N gồm:
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 21 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 25cm có tổng khối lượng là 4,2kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng - đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 16 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 03 cm có tổng khối lượng 0,4kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông, dán kín bên trong đựng: 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 127 kíp nổ đốt dạng thỏi kim loại hình trụ tròn giống nhau có đường kính 0,6cm, dài 3,5cm được niêm phong theo quy định.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 23 kíp nổ đã được gắn dây cháy chậm dạng ống kim loại màu trắng đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, giống nhau, một đầu được gắn dây màu đen dài 05cm đường kính 0,5cm.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 04 kíp nổ điện dạng ống kim loại hình trụ tròn giống nhau đường kính 0,6cm, dài 4,6cm, một đầu được nối với hai sợi dây dẫn điện màu xanh dài 1,9m được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x13cm, bên trong đựng 8,75m dây cháy chậm màu đen đường kính 0,5cm được niêm phong theo quy định.
- 1 gói niêm phong dán kín, bên trong chứa 10 kíp nổ đốt, 10 kíp nổ đốt đã được gắn dây cháy chậm, 02 kíp nổ điện(là mẫu vật trả lại sau khi giám định tại Phòng K Công an tỉnh N) được niêm phong theo quy định.
Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kìm dài 18,5cm, bọc nhựa màu đỏ đen và 01 vật có đặc điểm: Thỏi hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm. dài 03cm, bên ngoài được bọc bằng băng dán màu trắng, có gắn ống kim loại đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, một đầu được gắn dây thừng dài 5cm đường kính 0,5cm giống với vật nổ tự chế có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 24/7/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đó thu được và các tài liệu khác có tại hồ sơ. Có căn cứ kết luận: Khoàng 23 giờ ngày 22/12/2024, tại thôn T, xã Q nay là thôn T, phường T, tỉnh Nghệ An Lê Bá D có hành vi cất dấu 4,9 kg (25 thỏi) thuốc nổ công nghiệp, loại thuốc nổ Amonit AD1; 170 kíp nổ số 8; 06 kíp nổ điện số 8 và 9,75m dây cháy chậm. Đến sáng ngày 23/12/2024, D lấy 03 thỏi thuốc nổ chế tạo thành 21 thỏi thuốc nổ, cắt 01 đoạn dây cháy chậm thành 33 đoạn ngắn rồi bỏ vào 33 kíp nổ đốt, dùng kìm bóp chặt đầu dây cháy chậm để cố định rồi tra 06 kíp nổ đốt đã gắn dây cháy chậm vào 06 thỏi thuốc nổ nhỏ để tạo thành vật nổ tự chế. Đến khoảng 6 giờ ngày 29/12/2024, khi Lê Bá D chuẩn bị công cụ trên tàu NA-91571-TS để đi đánh cá biển thì bị Tổ công tác Công an huyện Q phối hợp đồn biên phòng Q và đồn biên phòng Q1 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Lê Bá D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chế tạo, tàng trữ 4,9kg thuốc nổ công nghiệp Amonit AD1; 170 kíp nổ đốt số 8; 06 kíp nổ điện số 8 và 9,75m dây cháy chậm.
Quá trình phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chế tạo, tàng trữ vật liệu nổ của mình là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu tôn trọng pháp luật nên vẫn cố tình thực hiện.
Hành vi thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Bá D phạm tội: “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1, điều 305 Bộ luật hình sự như cáo trạng quy kết là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vật liệu nổ. Đe dọa nghiêm trọng trật tự an toàn công cộng, cũng như tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Do vậy phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông nội của bị cáo là ông Lê Mạnh H là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Bằng khen và Huân chương chiến công hạng ba. Quá trình hành nghề đánh bắt cá, Lê Bá D đã tham gia cứu hộ tàu của anh Trần Đình H1, trú tại thôn T, xã Q nay là phường T gặp sự cố khi đang hoạt động trên biển và tích cực tham gia phong trào ra khơi bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo được Hội nghề cá, Ban chỉ huy Quân sự xã và UBND xã Q nay là phường T xác nhận. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo.
[6] Đối với Đậu Thị N1, theo lời khai của Lê Bá D là người bán vật liệu nổ cho D, Cơ quan điều tra đã ghi lời khai nhưng Nghĩ không thừa nhận. Ngoài lời khai của Lê Bá D, không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh nên không đủ căn cứ kết luận Đậu Thị N1 đã tham gia mua bán vật liệu nổ cùng Lê Bá D.
[7] Về xử lý vật chứng:
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định số vật chứng có tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/02/2025 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh N và K1 - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N gồm:
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 21 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 25cm có tổng khối lượng là 4,2kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng - đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 16 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 03 cm có tổng khối lượng 0,4kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông, dán kín bên trong đựng: 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 127 kíp nổ đốt dạng thỏi kim loại hình trụ tròn giống nhau có đường kính 0,6cm, dài 3,5cm được niêm phong theo quy định.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 23 kíp nổ đã được gắn dây cháy chậm dạng ống kim loại màu trắng đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, giống nhau, một đầu được gắn dây màu đen dài 05cm đường kính 0,5cm.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 04 kíp nổ điện dạng ống kim loại hình trụ tròn giống nhau đường kính 0,6cm, dài 4,6cm, một đầu được nối với hai sợi dây dẫn điện màu xanh dài 1,9m được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x13cm, bên trong đựng 8,75m dây cháy chậm màu đen đường kính 0,5cm được niêm phong theo quy định.
- 1 gói niêm phong dán kín, bên trong chứa 10 kíp nổ đốt, 10 kíp nổ đốt đã được gắn dây cháy chậm, 02 kíp nổ điện(là mẫu vật trả lại sau khi giám định tại Phòng K Công an tỉnh N) được niêm phong theo quy định.
Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kìm dài 18,5cm, bọc nhựa màu đỏ đen và 01 vật có đặc điểm: Thỏi hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm. dài 03cm, bên ngoài được bọc bằng băng dán màu trắng, có gắn ống kim loại đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, một đầu được gắn dây thừng dài 5cm đường kính 0,5cm giống với vật nổ tự chế có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 24/7/2025.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Các đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Bá D phạm tội “Chế tạo, tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 305, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá D 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Bá D cho UBND phường T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N xử lý theo quy định số vật chứng có tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/02/2025 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh N và K1 - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N gồm:
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 21 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 25cm có tổng khối lượng là 4,2kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng - đỏ, kích thước 32x22x17cm, bên trong đựng 16 thỏi thuốc nổ hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm, dài 03 cm có tổng khối lượng 0,4kg được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông, dán kín bên trong đựng: 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 127 kíp nổ đốt dạng thỏi kim loại hình trụ tròn giống nhau có đường kính 0,6cm, dài 3,5cm được niêm phong theo quy định.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 23 kíp nổ đã được gắn dây cháy chậm dạng ống kim loại màu trắng đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, giống nhau, một đầu được gắn dây màu đen dài 05cm đường kính 0,5cm.
- 01 gói niêm phong dán kín bằng giấy trắng, bên trong đựng 04 kíp nổ điện dạng ống kim loại hình trụ tròn giống nhau đường kính 0,6cm, dài 4,6cm, một đầu được nối với hai sợi dây dẫn điện màu xanh dài 1,9m được niêm phong theo quy định.
- 01 hộp cát tông màu trắng – đỏ, kích thước 32x22x13cm, bên trong đựng 8,75m dây cháy chậm màu đen đường kính 0,5cm được niêm phong theo quy định.
- 1 gói niêm phong dán kín, bên trong chứa 10 kíp nổ đốt, 10 kíp nổ đốt đã được gắn dây cháy chậm, 02 kíp nổ điện(là mẫu vật trả lại sau khi giám định tại Phòng K Công an tỉnh N) được niêm phong theo quy định.
Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc kìm dài 18,5cm, bọc nhựa màu đỏ đen và 01 vật có đặc điểm: Thỏi hình trụ tròn bọc giấy màu nâu, đường kính 03cm. dài 03cm, bên ngoài được bọc bằng băng dán màu trắng, có gắn ống kim loại đường kính 0,6cm, dài 3,5cm, một đầu được gắn dây thừng dài 5cm đường kính 0,5cm giống với vật nổ tự chế có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 24/7/2025.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T1; Buộc bị cáo Lê Bá D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND khu vực 4-Nghệ An; - Bị cáo; - THADS tỉnh Nghệ An. - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An. - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |