vanban.org

Bản án 18/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa A S 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2025 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST
Ngày 27-8- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chung và bà Cầm Thị Tươi

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 11/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 15/8/2025 đối với bị cáo:

Mùa A S ; tên gọi khác: Mùa A S, Mua A D, sinh năm 1964 tại huyện M C Ch, tỉnh Y B (cũ); nơi cư trú: Bản B Ỏ, xã Ch Khoo, tỉnh Sơn La (trước khi sáp nhập là : Bản B Ỏ, xã Ch Khoo, huyện SM , tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Mùa A Tủa (tên gọi khác: Mùa Bua Tủa), đã chết và bà Giàng Thị Sâu, sinh năm 1943; có vợ là Giàng Thị Của, sinh năm 1964 và 08 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại bản án số 112/2014/HSST ngày 23/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện SM , tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 27/6/2016 (đã xóa án tích); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2025 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 14/5/2025 Tổ công tác Công an xã Ch Khoo, huyện SM (cũ) làm nhiệm vụ phòng, chống ma tuý tại bản B Ỏ, xã Ch Khoo, huyện SM (cũ) phát hiện, bắt quả tang Mùa A S có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa các cục bột liên kết màu trắng và 01 viên nén màu hồng.

Ngày 15/5/2025 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả:

Chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 0,64 gam, trích 0,15 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S1. Vật chứng còn lại 0,49 gam ký hiệu M. 01 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,09 gam. Trích hết 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S2.

Kết luận giám định số 558/KL-KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu S1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15 gam.

Mẫu ký hiệu S2 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam;

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,64 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất và 0,09 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 10/5/2025 bị cáo mang theo số tiền 200.000 đồng (là tiền do tiết kiệm mà có) đi bộ từ nhà đến bản Huổi Nhả, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn (sau sáp nhập là bản Huổi Nhả, xã Phiêng Cằm, tỉnh Sơn La) để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến bản Huổi Nhả, Sạng gặp một người đàn ông không quen biết đang đi bộ trên đường và hỏi mua được 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa Heroine và Hồng phiến với giá 200.000 đồng, Sạng cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Đến nhà Sạng trích một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể, số ma túy còn lại Sạng gói lại như ban đầu. Hàng ngày Sạng trích một ít Heroine ra sử dụng. Đến tối ngày 14/5/2025 Sạng cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái đi ra ngoài đường tìm chỗ sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Ch Khoo phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 11/8/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La đã truy tố bị cáo Mùa A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo Mùa A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017: Xử phạt bị cáo Mùa A S từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 04 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng và 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu M= 0,49 gam nghi là Heroine.

Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo tự bào chữa: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về luật áp dụng: Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung 2025 không có lợi cho người phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 14/5/2025; Kết luận giám định số 558/KL-KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 14/5/2025 tại bản B Ỏ, xã Ch Khoo, huyện SM , tỉnh Sơn La (sau sáp nhập là bản B Ỏ, xã Ch Khoo, tỉnh Sơn La) bị cáo Mùa A S có hành vi cất giấu trái phép 0,73 gam ma tuý (trong đó gồm 0,64 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine) để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Mùa A S đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị cáo thuộc trường hợp có nhân thân xấu, có 01 lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 túi Nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu M = 0,49 gam là Heroine, là vật Nhà nước cấm lưu hành và là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội hết giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở khu vực tại bản Huổi Nhả, xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nên không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa A S 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2025

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong gồm 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 túi Nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu M = 0,49 gam là Heroine.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La; biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng thi hành án dân sự khu vực 03 - Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27 tháng 8 năm 2025).

Cỡ chữ