vanban.org

Bản án 18/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phạm Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Quốc B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024. Xử phạt Phạm Duy K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy K và Nguyễn Quốc B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phạm Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST
Ngày 28-3-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Phƣơng- Bí thƣ huyện đoàn Tứ Kỳ và ông Nguyễn Ngọc Phan- Cán bộ hƣu trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HSST ngày 28-02-2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Phạm Duy K, sinh ngày 05/3/2007; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn H, xã Q, TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Minh Q và bà Đồng Thị L, gia đình có bốn chị em, bị cáo là con thứ tƣ; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.

2. Nguyễn Quốc B, sinh ngày 19/8/2000; Nơi ĐKHKTT: khu T, phƣờng A, TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Chu Thị C, Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.

- Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Minh Q, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn H, xã Q, TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo K: Bà Nguyễn Thị Liên- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Văn H, sinh năm 1956;

+ Ông Khƣơng Viết T, sinh năm 1975;

Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Quốc B và Phạm Duy K biết nhau thông qua mạng xã hội facebook. Khoảng 14 giờ 52 phút ngày 13/12/2024 K sử dụng điện thoại Iphone 15, vỏ màu hồng, lắp sim số 0898.420.... đăng nhập tài khoản facebook có tên "Phạm Duy K" nhắn tin qua ứng dụng messenger đến tài khoản "N B" của B, hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy loại Tobaco, mục đích bán kiếm lời. B đồng ý, hẹn K khi nào có ma túy sẽ báo cho K biết và gửi thông tin số tài khoản ngân hàng của B để K chuyển tiền đặt cọc mua ma túy. Khoảng 17 giờ 29 phút cùng ngày K chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản số 0789352... ngân hàng MB của K đến tài khoản số 46010004953385 ngân hàng BIDV của B là tiền đặt cọc mua ma túy. Cùng ngày, B truy cập facebook, nhắn tin hỏi mua ma túy loại Tobaco với ngƣời không quen biết (B không nhớ tên facebook) và gửi vị trí giao hàng cho ngƣời này. Sáng ngày 14/12/2025 ngƣời bán ma túy gọi và nhắn tin địa điểm bán ma túy cho B thông qua ứng dụng messenger. Cùng ngày tại khu vực ven đƣờng Quốc lộ 5 (không nhớ vụ trí cụ thể) B gặp và mua đƣợc 50gam ma túy loại Tobaco của một ngƣời đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng, rồi nhắn tin hẹn K hôm sau sẽ bán 1.500.000 đồng số ma túy vừa mua đƣợc cho K, K đồng ý. Sáng ngày 15/12/2024, B điều khiển xe máy Honda Wave, màu xanh đen, biển số 34L7-0873 (xe mƣợn của bà Chu Thị C là mẹ của B) mang theo 50gam ma túy mua đƣợc hôm trƣớc, trên đƣờng đi B rẽ vào hiệu thuốc mua hơn 20 túi nilon dạng túi zíp, đi đến khu vực trƣờng mầm non, xã Quyết Thắng, thành phố Hải Dƣơng gặp và bán cho K. Khoảng 17 giờ 42 phút ngày 15/12/2024 K chuyển nốt 500.000 đồng từ tài khoản số 0789352... ngân hàng MB của K đến tài khoản số 46010004953385 ngân hàng BIDV của B là tiền mua ma túy của Bcòn thiếu. K mang số ma túy mua đƣợc của B về nhà chia đều vào các túi nilon B đƣa (không nhớ chia đƣợc bao nhiêu túi) rồi đăng bán trên facebook qua nhóm kín "TOBACO HẢI DƢƠNG 24/7" thì có một số tài khoản (K không biết của ai) hỏi mua ma túy của K. K đồng ý và bán cho những ngƣời này với giá 200.000 đồng/túi ma túy loại Tobaco. K không nhớ đã bán cho bao nhiêu ngƣời, vì sau mỗi lần bán K đã xóa hết các tin nhắn giao dịch. Khoảng 13 giờ 36 phút ngày 15/12/2024 tài khoản facebook có tên "Tam ...." (sau đổi thành tên "T B") nhắn tin qua ứng dụng mesenger đến tài khoản "Phạm Duy K" của K hỏi mua 700.000 đồng ma túy loại Tobaco, K đồng ý bán cho ngƣời này 04 túi ma túy loại Tobaco và hẹn giao hàng ở bến đò Lạng, xã Bình Lãng. Chiều ngày 16/12/2024 K điều khiển xe máy điện NINJA, loại RR SPORT, biển số 34MĐ....., cất giấu 12 túi nilon màu trắng có chứa ma túy loại Tobaco vào cốp xe, 01 túi nilon màu trắng có chứa ma túy loại Tobaco vào túi áo khoác bên phải sang khu vực đò Lạng để bán cho ngƣời có tài khoản facebook tên "Tam ....". Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 16/12/2024, khi K đang đứng đợi ngƣời mua ma túy đến để bán thì bị tổ công tác Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện lập biên bản vụ việc, thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, loại túi Zip, kích thƣớc (7,2x4,2)cm, bên trong chứa các sợi màu nâu vàng, dạng sợi thực vật tại túi áo khoác bên phải K mặc; 12 túi nilon màu trắng, loại túi Zip, đều có kích thƣớc (8,5x5)cm, bên trong các túi đều chứa các sợi màu nâu vàng tại cốp xe máy điện; 01 xe máy điện NINJA, loại RR SPORT, biển số 34MĐ.....; 01 điện thoại Iphone 15, vỏ màu hồng, lắp sim số 0898.420..... Ngày 17/12/2024 Công an huyện Tứ Kỳ triệu tập Nguyễn Quốc B đến làm việc, B khai nhận hành vi vi phạm của mình, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 6 plus, màu vàng, lắp sim số 0785.108.....

Tại Bản Kết luận giám định số 1387 ngày 18/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận:

- Mẫu sợi thực vật khô ký hiệu 01 gửi giám định có khối lƣợng: 2,23 gam, tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA. Mẫu sợi thực vật khô ký hiệu 02 gửi giám định có khối lƣợng: 41,58 gam, tìm thấy chất ma túý, loại: MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA. Phòng PC09, Công an thành phố Hải Phòng không có mẫu chuẩn hàm lƣợng nên không tiến hành xác định hàm lƣợng, khối lƣợng chất MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA.(bút lục số 46)

- Các chất MDMB-BUTINACA, STT 342 thuộc danh mục IIC theo Nghị định số 90/2024//NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ, và MDMB-4en-PINACA, STT 241 thuộc danh mục IIC theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSTK ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phạm Duy K, Nguyễn Quốc B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với các bị cáo; khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật tƣ pháp ngƣời chƣa thành niên đối với bị cáo Phạm Duy K.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Duy K, Nguyễn Quốc B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

+ Xử phạt Phạm Duy K từ 15 đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024.

+ Xử phạt Nguyễn Quốc B từ 25 đến 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; áp dụng điểm a, b, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng và có chữ ký của các bên có liên quan đƣợc niêm phong trong phong bì số 11378/MT/PC09 bên trong chứa 1,01 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 01; 27,47 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 02 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại Iphone 6 plus của Nguyễn Quốc B, 01 điện thoại Iphone 15 của Phạm Duy K. Trả lại ông Phạm Minh Q 01 xe máy điện NIJA, loại RR SPORT, biển số 34MĐ...... Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 1.500.000 đồng trong tài khoản của B mở tại Ngân hàng BIDV.

Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đúng nhƣ cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố, các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo K: Bà Nguyễn Thị Liên - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 90, 91, khoản 2 Điều 101, Điều 38 BLHS, Điều 119 Luật Tƣ pháp ngƣời chƣa thành niên xem xét khi phạm tội bị cáo là ngƣời chƣa thành niên, có nhân thân tốt, là học sinh đƣợc tặng giấy khen, bị cáo vừa phẫu thuật lồng ngực sức khỏe yếu và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 13 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo K nhất trí với bài bào chữa, không bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 15/12/2024, tại khu vực trƣờng mầm non xã Q, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Quốc B đã bán 50gam các sợi thực vật khô màu nâu vàng có chứa chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA cho Phạm Duy K với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 16/12/2024, tại khu vực bến đò L thuộc thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Phạm Duy K đã có hành vi cất giấu 43,81 gam các sợi thực vật khô màu nâu vàng có chứa chất ma tuý, loại MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA để bán cho ngƣời khác, thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, kiểm tra lập biên bản và thu giữ cùng vật chứng.

Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phạm Duy K đều là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý, song với mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 BLHS. Do Nguyễn Quốc B đã bán khoảng 50 gam ma túy loại MDMB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA cho K, K đã bán một ít cho một số ngƣời không xác định đƣợc rõ là ai, ở đâu, số còn lại 43,81 gam đang cất giấu mang bán kiếm lời thì bị bắt. Vì vậy, các bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm theo khoản 1 Điều 251 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đây là vụ án có hai bị cáo phạm tội độc lập với nhau, trong đó mục đích B bán ma túy cho K để kiếm lời, mục đích K mua ma túy của B để chia nhỏ ra mang đi bán cho ngƣời khác cũng để kiếm lời, B không biết K mua về để bán nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Quốc B và Phạm Duy K đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng huy chƣơng chiến sĩ vẻ vang, quá trình học tập đƣợc nhà trƣờng tặng giấy khen nên đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Khi phạm tội, bị cáo K trên 17 tuổi, là ngƣời chƣa thành niên phạm tội, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, HĐXX áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật Tƣ pháp ngƣời chƣa thành niên, để xem xét khi lƣợng hình cho phù hợp và xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhƣng dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo K khi phạm tội là ngƣời chƣa thành niên, các bị cáo không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì giấy có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng và có chữ ký của các bên có liên quan đƣợc niêm phong trong phong bì số 11378/MT/PC09 bên trong chứa 1,01 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 01; 27,47 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 02 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu là mẫu vật hoàn lại sau giám định không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Iphone 6 plus của Nguyễn Quốc B, 01 điện thoại Iphone 15 đây là phƣơng tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc. Đối với số tiền 1.500.000 đồng K chuyển khoản để mua ma túy trong tài khoản của B mở tại Ngân hàng BIDV. Đây là số tiền do B phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc. Đối với 01 sim điện thoại số 0785.108.... là sim đăng ký chính chủ của B và 01 sim số 0898.420.... do Phạm Duy K sử dụng là sim rác, theo kết quả tra cứu của Cơ quan điều tra trong tài khoản trên đều không có tiền, các thuê bao trên đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy sim vật lý và kiến nghị Công ty dịch vụ Mobifone thu hồi đối với các kho số sim nêu trên. Đối với 01 xe máy điện NIJA, loại RR SPORT, biển số 34MĐ..... Phạm Duy K sử dụng đi bán ma túy là do bị cáo mƣợn của bố bị cáo, đăng ký mang tên ông Phạm Minh Q. Ông Q không biết mục đích bị cáo mƣợn xe đi bán ma túy nên cần trả lại cho ông Q sử dụng là phù hợp theo điểm a, b, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Đối với bà C cho B mƣợn chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, biển số 34L-0873 để B đi bán ma túy cho K bà C không biết mục đích của B sử dụng xe máy đi bán ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp và bà C nên không phải chịu trách nhiệm.

Đối với ngƣời đã bán ma túy cho B và những ngƣời đặt mua ma túy của K quá trình điều tra không làm rõ tên tuổi, địa chỉ nên chƣa có căn cứ xử lý. Quá trình điều tra K còn khai nhận sau khi mua đƣợc ma túy của B đã về chia nhỏ và bán ma túy cho một số ngƣời, tuy nhiên không xác định đƣợc ngƣời mua là ai, ở đâu, số tiền là bao nhiêu, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý K về hành vi này và cũng không có cơ sở để truy thu số tiền trên.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 BLHS đối với bị các bị cáo; khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật Tƣ pháp ngƣời chƣa thành niên đối với bị cáo Phạm Duy K;

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phạm Duy K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt Nguyễn Quốc B 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024.

+ Xử phạt Phạm Duy K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng và có chữ ký của các bên có liên quan đƣợc niêm phong trong phong bì số 11378/MT/PC09 bên trong chứa 1,01 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 01; 27,47 gam thực vật khô của mẫu ký hiệu 02 cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 sim điện thoại số 0785.108.... là sim đăng ký chính chủ của Nguyễn Quốc B, trong tài khoản 0 đồng và 01 sim số 0898.420.... do Phạm Duy K; Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại Iphone 6 plus của Nguyễn Quốc B, 01 điện thoại Iphone 15 của Phạm Duy K. Trả lại ông Phạm Minh Q 01 xe máy điện NIJA, loại RR SPORT, biển số 34MĐ..... (các điện thoại và xe đều là cũ, không kiểm tra chất lƣợng, tình trạng). Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 1.500.000 đồng trong tài khoản số 46010004953385 tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV) của Nguyễn Quốc B.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).

Kiến nghị Công ty Dịch vụ Mobifone thu hồi các số thuê bao di động 0898.420.... của Phạm Duy K và 0785.108.... của Nguyễn Quốc B theo quy định của Luật viễn thông.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Phạm Duy K, Nguyễn Quốc B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Bị cáo, ngƣời bào chữa cho bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về các nội dung có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ