- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA18 Lê Đức Hải Đ và ĐP mua bán trái phép chất MT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đức H1 Đ, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 28-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Cao Hoàng Dân.
ông Nghiêm Xuân Hoả.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Đức H1 Đ, sinh năm 2004 tại thị trấn Đ, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đ, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; vợ: không; có 02 con đều sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Ngày 03/4/2020 bị Công an huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác.
+ Ngày 21/9/2021 bị Công an xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự nơi công cộng, đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau.
Bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, chuyển tạm giam ngày 18/7/2024. Có mặt.
2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985 tại xã H3, huyện M, thành phố H; nơi cư trú: thôn Hội Xá, xã H3, huyện M, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1956; vợ là Nguyễn Thị T1 sinh năm 1987, có 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, chuyển tạm giam ngày 18/7/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 12/7/2024, Tổ công tác Công an huyện Mỹ Đức phối hợp cùng Công an thị trấn Đại Nghĩa làm nhiệm vụ tại tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức thì phát hiện Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985, nơi cư trú: thôn Hội Xá, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức và Lê Đức H1 Đ, sinh năm 2004, nơi cư trú tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tổ công tác thu tại tay pH1 của H1 01 túi ni lông màu đỏ bên trong có lớp giấy bạc, bên trong lớp giấy bạc có 01 túi ni lông chứa 11 viên nén màu hồng. H1 khai nhận là ma tuý hồng phiến do Lê Đức H1 Đ vừa đưa cho H1 ở trong nhà Đ để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị bắt giữ. Tổ công tác tiến hành niêm phong túi ma tuý thu giữ của H1 vào phong bì, ngoài ra còn thu giữ của H1 01 điện thoại di động nhân hiệu OPPO màu xanh. Sau đó Tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đức H1 Đ tại tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, thu giữ tại mặt giường trong phòng ngủ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A05 màu xanh của Lê Đức H1 Đ. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn H1, Lê Đức H1 Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và lập biên bản thu giữ, niêm phong các vật chứng.
Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 12/7/2024, Lê Đức H1 Đ đang ở nhà thì có người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo "Thạch Nguyễn" gọi điện thoại cho Đ qua ứng dụng Zalo (Đ không biết rõ họ tên, địa chỉ của người đàn ông này) hỏi mua của Đ 1.000.000 đồng tiền ma tuý "Ngựa", Đ đồng ý và yêu cầu người đàn ông này chuyển tiền mua ma tuý vào số tài khoản 0342775908 mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội MB Bank mang tên Lê Đức H1 Đ. Người đàn ông đồng ý và chuyển 2 lần với tổng số tiền là 700.000 đồng (lần 1 số tiền 200.000 đồng, lần 2 chuyển 500.000 đồng) từ số tài khoản 19072097020010 mở tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank) mang tên Nguyễn Văn Thạch đến số tài khoản của Đ, số tiền 300.000 đồng còn lại hẹn khi nào Đ giao ma tuý thì trả nốt. Đ gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho người đàn ông có tài khoản Zalo "Minh Tô Mỳ" (Đ không biết rõ họ tên, địa chỉ hỏi mua 800.000 đồng tiền ma tuý "Ngưa", người này đồng ý, rồi yêu cầu Đ chuyển tiền đến tài khoản số 066851530001 mang tên Nguyễn Thế Minh mở tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt. Đ đã chuyển khoản số tiền 800.000 đồng từ tài khoản của mình đến số tài khoản của Minh. Sau khi chuyển tiền thành công Minh hẹn Đ ra khu vực cổng trường mầm non Tề Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa huyện Mỹ Đức để nhận ma tuý. Đ đi bộ từ nhà đến khu vực cổng trường mầm non Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa thì Minh nhắn tin qua ứng dụng zalo cho Đ chỉ địa điểm cất giấu ma tuý tại vỉa hè mặt đường gần cổng Trường mầm non, Đ tìm theo chỉ dẫn của Minh thì thấy 01 gói giấy bạc chứa 11 viên ma tuý “ngựa”, Đ cầm mang về nhà cất giấu vào 01 túi nilon màu đỏ. Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, Nguyễn Văn H1 đi đến nhà Đ với mục đích rủ Đ mua ma túy để cùng sử dụng. Khi Nguyễn Văn H1 vào nhà Đ ngồi chơi được một lúc thì Đ nhận được cuộc gọi điện thoại đến qua ứng dụng Zalo. Lúc này, Đ đưa cho H1 01 gói nilon màu đỏ chứa ma túy "Ngựa" và nói với H1 mang ra khu vực cổng nhà Đ để bán cho khách và nhận tiền, H1 đồng ý rồi cầm gói ma túy đi bộ ra ngoài cổng nhà Đ thì bị Lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 5306/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tp. Hà Nội kết luận:
“11 viên nén màu hồng (để trong 01 túi ni lông) đều là ma tuý là Menthamphetamine, tổng khối lượng 1,088 gam”.
Quá trình kiểm tra điện thoại của Lê Đức H1 Đ, trong lịch sử liên lạc tài khoản zalo trong ngày 12/7/2024 có cuộc liên lạc từ tài khoản zalo "Lê Đức H1 Đ" của Đ đến tài khoản zalo "Minh Tô Mỳ" 0834993603 và tài khoản zalo "Tony Minh", Mình không có tài khoản zalo "Minh Tô Mỳ".
Ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 922/CV-ĐCSKT-MT gửi đến Công ty Cổ phần VNG đề nghị phối hợp điều tra, cung cấp thông tin về tài khoản zalo "Tony Minh”, “Minh Tô Mỳ”, “Thạch Nguyễn” và nội dung tin nhắn của các tài khoản trên với tài khoản zalo của “Lê Đức H1 Đ"; xác định tài khoản zalo "Tony Minh", "Minh Tô Mỳ” có pH1 cùng một tài khoản không?
Ngày 18/11/2024, Công ty Cổ phần VNG có Công văn số 1806/2024/CVZA-VNG cung cấp thông tin: Số điện thoại 0834993603 của Nguyễn Thế Minh là tài khoản "KH1 Nguyễn", thời gian khởi tạo ngày 30/9/2024, thông tin của các tài khoản “Thạch Nguyễn", "Mình Tô Mỳ” và "Tony Minh" không đủ nên không hỗ trợ xác minh.
Cáo trạng số 99/CT-VKS-MĐ ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố Lê Đức H1 Đ, Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lê Đức H1 Đ khai: Đ là người sử dụng ma túy từ đầu năm 2024, nên có lên các trang mạng để tìm mua ma túy sử dụng, Ngày 12/7/2024 có người đàn ông sử dụng tài khoản Zalo “Thạch Nguyễn” gọi điện cho Đ qua ứng dụng Zalo hỏi mua của Đ 1.000.000 đồng tiền ma tuý ngựa, nên Đ đồng ý “ mua hộ” người đàn ông này đã chuyển cho Đ 700.000 đồng và nợ lại 300.000 đồng hẹn khi nào nhận ma tuý sẽ thanh toán nốt. Đ đồng ý và hỏi mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ có tài khoản Zalo “Minh Tô Mỳ” để mua 800.000 đồng được 11 viên ma tuý ngựa, Đ đã thanh toán tiền qua tài khoản có tên Nguyễn Thế Minh và đã nhận ma tuý tại vỉa hè mặt đường gần cổng trường mầm non Tế Tiêu.
Đ và H1 cùng thừa nhận: Đ và H1 là bạn xã hội, khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H1 đến nhà Đ rủ Đ mua ma tuý để cùng sử dụng. Đ đã đưa cho H1 01 gói nilon màu đỏ chứa 11 viên ma tuý ngựa và nói với H1 mang nhà khu vực cổng nhà Đ để bán cho khách và nhận tiền. H1 đồng ý rồi cầm gọi ma tuý đi bộ ra ngoài cổng nhà Đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với:
- Bị cáo Lê Đức H1 Đ từ 36-42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/7/2024.
- Bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 30-36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Đối với nguồn gốc số ma túy Lê Đức H1 Đ đã mua ngày 12/7/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh người bán ma túy có tên tài khoản zalo: “ Minh Tô Mỳ” nhưng không làm rõ được người bán ma túy nên là ai trong việc giao dịch mua, bán ma tuý với Đ nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý “ Minh Tô Mỳ” là phù hợp.
Đối với người đàn ông hỏi mua ma túy của Đ qua ứng dụng Zalo tên là 140 "Thạch Nguyễn", Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh người mua ma túy có tên tài khoản zalo: 140 "Thạch Nguyễn” và số tài khoản chuyển tiền xác định là Nguyễn Văn Thạch nhưng không đủ căn cứ xác định chủ tài khoản zalo nói trên là người mua ma túy của Đ nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý Thạch là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh gắn sim, số IMEI 354035901686053. IMEI2 354978661686054 của Đ.
Trả lại cho H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, gắn sim, IMEI 869945065332096, IMEI2 86994506533088.
Về án phí: Buộc các bị cáo pH1 nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Xét tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H1 Đ, Nguyễn Văn H1 đã thành khẩn khai nhận do là đối tượng có sử dụng ma tuý, nên ngày 12/7/2024, tại nhà của Lê Đức H1 Đ ở tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội Đ đã đưa cho H1 1 túi nilon bên trong có 01 gói chứa 11 viên nén màu hồng kết quả giám định là ma tuý loại Methamphetamine khối lượng 1,088 gam để H1 mang ra ngoài đầu ngõ nhà Đ bán cho khách hẹn để thu lợi nhưng chưa kịp giao ma tuý và nhận tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Đức H1 Đ và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là đúng pháp luật.
- Xét vai trò và hành vi của các bị cáo: Bị cáo Đ là người trực tiếp mua và liên hệ bán ma túy nên giữ vai trò số 1, H1 là người đồng ý giúp sức cho Đ giao ma túy cho người mua nên giữ vai trò thứ hai.
- Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Bản thân các bị cáo biết rất rõ ma tuý là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khoẻ, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống. Ma tuý bị nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Nhưng vì ham muốn sử dụng ma túy, các bị cáo bất chấp coi thường các tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự của xã hội và muốn tiếp tục có tiền sử dụng ma tuý, bị cáo đã không ngần ngại bán ma tuý cho người khác là thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo Đ còn có nhân thân xấu, 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Do đó, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lên mức hình phạt cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, pham tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Cần xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ.
- Về các vấn đề khác: Đối với người bán và người mua ma túy của Đ, Cơ quan điều tra không làm rõ được danh tính của những người này cũng như không rõ hành vi của họ có liên quan đến việc mua bán ma túy của Đ nên không đủ căn cứ xem xét các đối tượng đó trong vụ án này.
- Về án phí: Các bị cáo pH1 nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lê Đức H1 Đ, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
+ Bị cáo Lê Đức H1 Đ 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/7/2024.
+ Bị cáo Nguyễn Văn H1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo được niêm phong trong 01 phong bì.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh gắn sim, số IMEI 354035901686053. IMEI2 354978661686054 của Đ.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, gắn sim, IMEI 869945065332096, IMEI2 86994506533088.
Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/01/2025 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc cá bị cáo Đ và H1, mỗi bị cáo pH1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Hà Nội;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Mỹ Đức;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức;
- Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- UBND xã Hương Sơn, thị trấn Đại Nghĩa (thay TBKQ xét xử);
Bùi Thị Hồng
- Bị cáo;
- Lưu: HSVA, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Hồng
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hợp Tiến; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Đức Hiệp |