- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 02 (Hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024 nhưng trừ đi thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện D K …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày 20-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D K - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Phi
Ông Phạm Văn Hóa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D K - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Bùi Nguyên Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện D K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T - sinh năm 1992 tại Khánh Hòa; Trú tại: thôn T M 2 - xã Diên Lạc - huyện D K - Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (sinh năm 1963) và bà Lê Thị Ph (sinh năm 1965); Vợ: Tạ Thị Minh N (sinh năm 1992); có 01 con (sinh năm 2020) tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực D K - Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa từ ngày 18/11/2024; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Đ - Văn phòng Luật sư Đ V Ph1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Phạm Ngọc H (chết):
Ông Phạm Ngọc Á
- sinh năm 1969 (Cha của anh H)
Bà Ngô Thị Mỹ H1
- sinh năm 1971 (mẹ của anh H) Đều trú tại: thôn P T 2 - xã Diên Phước - D K - tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Phạm Ngọc Á: Bà Ngô Thị Mỹ H - sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn P T 2 - xã D P - D K - tỉnh Khánh Hòa (Văn bản ủy quyền số 441, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/3/2023 tại Văn phòng Công chứng A K).
Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị M - sinh năm 1957 Địa chỉ: Tổ 17, Cụm 3, phường Đ K, quận N Q, Tp. Hải Phòng.
Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Bà Lê Hoàng Phương Th - sinh năm 1993
Địa chỉ: Đội 12, thôn T T, xã D T, huyện D K.
Vắng mặt tại phiên tòa.
Bà Tạ Thị Minh N
- sinh năm 1992
Địa chỉ: Tổ 17, Cụm 3, phường Đ K, quận N Q, Tp. Hải Phòng. Chỗ ở hiện tại: Chung Cư CT1, V Đ T, xã V H, Tp. Nha Trang
Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
Ông Trần Minh Th1
- sinh năm 1984
Địa chỉ: thôn T 1, xã D Đ, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 11/02/2023, Nguyễn Đức T (có giấy phép lái xe hạng A1) đi dự đám hỏi nhà họ hàng và có uống bia (có nồng độ cồn 38.8 mg/dL). Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B2-151.81, nhãn hiệu Honda, hiệu Vision, lưu T trên đường Tỉnh lộ 2 - huyện D K theo hướng D K - K V. Khi đến Km 01+ 650 đường Tỉnh lộ 2 thuộc thôn T T
- xã D T - huyện D K, thấy phía trước có 01 xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) lưu T cùng chiều cách lề đường bên phải khoảng 01m và 01 xe mô tô BKS 79K1-2581 do anh Phạm Ngọc H điều khiển lưu thông ở phần đường ngược chiều cách xe của T khoảng 70m, T mở rộng khoảng cách với xe cùng chiều và tăng tốc để vượt lên bên trái nên chạy lấn sang phần đường ngược chiều, nhưng không tập trung quan sát, khi xe T gần ngang với xe cùng chiều, thì mới phát hiện xe mô tô BKS 79K1-2581 do anh H điều khiển đến quá gần, T không xử lý kịp nên đã tông vào xe mô tô biển kiểm soát 79K1-2581 của anh H. Hậu quả: anh Phạm Ngọc H tử vong tại chỗ, T bất tỉnh được người dân chở đi cấp cứu.
Quá trình khám nghiệm hiện trường và thu dữ liệu chứng cứ xác định: Điểm va chạm của xe mô tô hiệu Vision, biển kiểm soát 15B2-151.81 do Nguyễn Đức T điều khiển và xe mô tô kiểu dáng Dream biển kiểm soát 79K1-2581 do anh Phạm Ngọc H điều khiển nằm ở phần đường lưu thông hướng Khánh Vĩnh - D K. Sau va chạm, xe mô tô 15B2-151.81 ngã đổ bên trái tại chỗ, xe mô tô biển kiểm soát 79K1-2581 văng qua phần đường ngược chiều ngã đổ bên trái, đầu xe quay hướng D K.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 66/TT-TTPY ngày 17/02/2023 của Trung Tâm Pháp Y thuộc Sở Y tế Khánh Hòa kết luận: Chấn thương sọ não: Xương hộp sọ vỡ; Chấn thương hàm mặt: Mặt biến dạng; Xương đùi, xương cẳng chân phải gãy. Nguyên nhân tử vong của Phạm Ngọc H: Đa chấn thương.
Tại bệnh án ngoại khoa số 9172 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa kết luận kết quả xét nghiệm Ethanol của Nguyễn Đức T lúc 13 giờ 45 phút ngày 11/02/2023 là 38.8 mg/dL.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 407/23/KLTTCT-PYKH ngày 27/4/2023 của Trung tâm pháp y-Sở y tế Khánh Hòa kết luận: Tổn thương của Nguyễn Đức T tại thời điểm giám định là 42%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D K kết luận: Xe mô tô hiệu Vision, biển kiểm soát 15B2-151.81 bị thiệt hại là 10.920.000 đồng (Mười triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng). Xe mô tô kiểu dáng Dream biển kiểm soát 79K1-2581 bị thiệt hại là 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D K, Nguyễn Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSDK ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện D K đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D K - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đức T. Đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức T từ 18 (mười tám) tháng tù - 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ”, Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024 nhưng trừ đi thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện D K từ ngày 14/3/2024 đến ngày 18/11/2024 là 08 (tám) tháng 04 (bốn) ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng: Xe mô tô biển kiểm soát 15B2-151.81 do Nguyễn Đức T điều khiển, đã trả lại cho bà Trần Thị M; xe mô tô kiểu dáng Dream biển kiểm soát 79K1-2581 do Phạm Ngọc H điều khiển, đã trả lại cho bà Ngô Thị Mỹ H1 nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trong vụ án này cũng có 01 phần lỗi của bị hại khi tham gia giao thông bị hại không có giấy phép lái xe, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con của bị cáo còn quá nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo bị thương tật 42% do bị tai nạn trên để lại, sức khỏe bị suy giảm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt, để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo mức hình phạt dưới khung cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo: Thống nhất với phần trình bày của Luật sư. Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, bị cáo không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại và đồng đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D K, Kiểm sát viên: Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M và những người làm chứng bà Lê Hoàng Phương Th, Tạ Thị Minh N và ông Trần Minh Th1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ căn cứ để xác định: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/02/2023, tại Km 01+ 650 đường Tỉnh lộ 2 thuộc thôn T T- xã D T - huyện D K, Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B2-151.81 trong cơ thể có nồng độ cồn 38.8 mg/Dl gây tai nạn với xe mô tô BKS 79K1-2581 do anh Phạm Ngọc H điều khiển, làm anh H tử vong tại chỗ do đa chấn thương. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy bản cáo trạng số 73/CT-VKSDK ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D K đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật, đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ gây ra cái chết cho anh Phạm Ngọc H là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bởi lẽ phương tiện giao T là nguồn nguy hiểm cao độ đòi hỏi mọi người khi tham gia giao thông phải nghiêm chỉnh chấp hành nhưng bị cáo sau khi đã uống bia còn điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, đi lấn sang phần đường ngược chiều hậu quả làm anh Hòa tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác của hại rượu, bia năm 2019 (sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12). Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo và xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại và đồng đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng) do bị cáo bồi thường. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại và và đồng đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại hồ sơ thể hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[6] Về vật chứng:
- Xe mô tô biển kiểm soát 15B2-151.81 nhãn hiệu Vision số khung 5803EY214879, số máy JF58E0214945 do Nguyễn Đức T điều khiển. Tại hồ sơ thể hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Trần Thị M là chủ sở hữu chiếc xe nói trên.
- Xe mô tô kiểu dáng Dream biển kiểm soát 79K1-2581 có số khung MG1000000566, số máy 150FM0000566 do Phạm Ngọc H điều khiển. Tại hồ sơ thể hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị Mỹ H1.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Đức T;
Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 02 (Hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao T đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024 nhưng trừ đi thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện D K từ ngày 14/3/2024 đến ngày 18/11/2024 là 08 (tám) tháng 04 (bốn) ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 01 (một) năm 03 (ba) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện D K; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS huyện D K; - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu THA hình sự, hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thanh Hoa |