vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Yến V ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Hải V1, sinh ngày 21/12/2009 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Q được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa chị nguyễn yến v và anh nguyễn văn q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Yến V ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2025
V/v tranh chấp ly hôn và giải
quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Liễu

2. Bà Lê Thị Út Tím

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Trường hợp không tham gia

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Yến V, sinh năm 1978. (có mặt)

Địa chỉ: Số 126/2/4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 17/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn Nguyễn Yến V trình bày:

Vào năm 1997 chị và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện quen biết yêu thương nhau và được sự đồng ý của cha mẹ hai bên nên chị và anh Q tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 02/12/2012. Trong quá trình chung sống chị và anh Q có 02 người con chung tên Nguyễn Hải Y, sinh ngày 27/9/1999 và Nguyễn Hải V1, sinh ngày 21/12/2009, hiện cháu Y đã trưởng thành còn cháu V1 đang sống cùng chị V. Về tài sản chung và nợ chung thì không có.

Chị V xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến đầu tháng 7/2024 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, anh Q đuổi mẹ con chị ra khỏi nhà, mâu thuẫn căng thẳng ngày càng trầm trọng nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt nên chị và anh Q đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Xin được ly hôn cùng anh Nguyễn Văn Q

Về việc nuôi con chung: Cháu Y đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V1 cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 18/12/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày như sau:

Vào năm 1997, anh và chị Nguyễn Yến V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 02/02/2012. Trong quá trình chung sống anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/9/1999 và Nguyễn Hải V1, sinh ngày 21/12/2009, hiện tại cháu Y đã trưởng thành còn cháu V1 đang sống cùng chị V. Về tài sản chung và về nợ chung không có.

Anh xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc thời gian sau đó thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt nên chúng tôi đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay anh Q có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Anh Q đồng ý ly hôn với chị V

Về việc nuôi con chung: Cháu Y đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết còn cháu V1 thì anh đồng ý giao cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc và không đồng ý cấp dưỡng, hàng tháng anh có nhiêu tiền thì anh cho con anh bấy nhiêu, hiện tại anh vẫn lo con anh học hành chu đáo

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị V yêu cầu ly hôn với anh Q. Xét thấy đây là tranh chấp về ly hôn và giải quyết việc nuôi con, bị đơn anh Q có nơi cư trú tại số A N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị V và anh Q nhưng anh Q vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Q chung sống với nhau vào năm 1997 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 02/02/2012, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Yến V, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu sau khi cưới nhau, chị V và anh Q chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 7/2024 giữa anh chị bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không hòa hợp, mâu thuẫn trầm trọng không hàn gắn được nên anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, chị V và anh Q không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Q cũng xác nhận vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không hợp nhau, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và anh Q cũng đồng ý ly hôn với chị V, qua đó cho thấy giữa anh chị đã có một thời gian dài mâu thuẫn với nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo, cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V.

Về việc nuôi con chung:

Chị V và anh Q cùng xác nhận anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/9/1999 và Nguyễn Hải V1, sinh ngày 21/12/2009.

Xét yêu cầu của chị V về việc yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V1 đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ khi anh chị sống ly thân, cháu V1 sống với chị V, chị V vẫn đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho con, mặt khác theo bản tự khai ngày 17/01/2025 thì cháu V1 có nguyện vọng sống cùng chị V, đồng thời anh Q cũng đồng ý giao cháu V1 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao cháu V1 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Q được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Đối với cháu Y thì chị V và anh Q cùng xác định cháu Y đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị V và anh Q xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị V có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 35, 39 và Điều 40; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Yến V ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Hải V1, sinh ngày 21/12/2009 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Q được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Q trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Đối với cháu Nguyễn Hải Y, sinh ngày 22/9/1999 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Yến V và anh Nguyễn Văn Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Yến V phải nộp 300.000 đồng nhưng chị V được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007407 ngày 23/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, chị V không phải nộp thêm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Yến V và anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ