vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T là vợ chồng. Về nuôi con chung: Bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T tự khai có 02 (hai) người con chung Dương Thị Tú N (nữ sinh ngày 16/11/1998) và Dương Việt K (nam, sinh ngày 23/10/2001). Hiện nay các con chung đều đủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Cẩm T và Dương Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6-CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2025
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hoàng Điệt.

Ông Đặng Duy Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân khu vực 6-Cần thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Cẩm T; sinh ngày: 01/01/1979; CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Bị đơn: Ông Dương Quốc T; sinh năm: 1975; Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 4 năm 2025 cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Trương Thị Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T có tổ chức tiệc cưới vào năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Bà T và ông T tìm hiểu nhau một thời gian thì tổ chức lễ cưới, sau khi cưới ông bà sinh sống tại ấp Mỹ Thuận, thị trấn Huỳnh Hữu nghĩa, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng ̣(ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ). Thời gian đầu vợ chồng bà Tvà ông Tchung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2015 thì vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, bà Tthường xuyên bệnh nên ông T đã xua đuổi bà T về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2015 đến nay, khi bà Tvà ông Tsống ly thân thì ông Tkhông đến thăm hỏi hay đón bà T về lại nhà. Hiện nay bà T nhận thấy vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận giữa bà và ông Dương Quốc T là vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T có 02 (hai) người con chung là Dương Thị Tú N (nữ sinh ngày 16/11/1998) và Dương Việt K (nam, sinh ngày 23/10/2001), hiện nay cháu N và cháu K đã đủ 18 (mười tám) tuổi, có công việc làm ổn định nên bà T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn ông Dương Quốc T: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T tại Thông báo thụ lý vụ án số: 104/TB-TLVA, ngày 05 tháng 5 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Dương Quốc T, cũng như đã triệu tập hợp lệ ông Dương Quốc T đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Dương Quốc T đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Dương Quốc T nhưng ông Dương Quốc T không gửi văn bản ghi ý kiến của ông Dương Quốc T đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà Trương Thị Cẩm T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Dương Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Cẩm T và bị đơn ông Dương Quốc T; ông Tcó nơi cư trú tại ấp Mỹ Thuận, thị Trấn Huỳnh Hữu Nghĩa, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp M, xã M, thành phố Cần Thơ). Căn cứ khoản 7, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo bà Ttrình bày do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, bà Tthường xuyên bệnh nên ông Tđã xua đuổi bà Tvề nhà cha mẹ ruột sinh sống. Bà Tvà ông Tđã sống ly thân từ năm 2015 đếnn nay, khi sống ly thân thì ông bà không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Nay bà Tyêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận bà và ông Dương Quốc T là vợ chồng.

Xét thấy, Bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1997 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mặc khác, theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Nên việc bà Trương Thị Cẩm T yêu cầu không công nhận quan hệ giữa bà Tvà ông Tlà vợ chồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T tự khai có 02 (hai) người con chung là Dương Thị Tú N (nữ sinh ngày 16/11/1998) và Dương Việt K (nam, sinh ngày 23/10/2001). Hiện nay cháu N và cháu K đều đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 7, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000.

- Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Bà Trương Thị Cẩm T và ông Dương Quốc T tự khai có 02 (hai) người con chung Dương Thị Tú N (nữ sinh ngày 16/11/1998) và Dương Việt K (nam, sinh ngày 23/10/2001). Hiện nay các con chung đều đủ 18 (mười tám) tuổi có công việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung: Bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Trương Thị Cẩm T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ) theo biên lai thu tiền số 0007609 ngày 25 tháng 4 năm 2025, nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ