- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Thùy D kiện Nguyễn Thiện T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Thùy D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 8 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoàng Liên.
2. Ông Phạm Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 157/2025/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/6/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thùy D, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường B, tỉnh Khánh Hòa (cũ là 27/2 L, khu phố 9, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận), (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thiện T, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường B, tỉnh Khánh Hòa (cũ là số 4 L, khu phố 7, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận), (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hoàng Thị Thùy D trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thiện T đến với nhau hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đám cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Bảo An, tỉnh Khánh Hòa) vào năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại số nhà 27/2 L, khu phố 9, phường P, thành phố P.
Quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, ông T đánh bà nhiều lần. Nhưng vì con nhỏ, muốn níu giữ hôn nhân nên bà đã cố gắng chịu đựng, vun vén hạnh phúc. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa bà và ông T ngày càng lớn, khoảng tháng 9/2024 bà và ông T có to tiếng và ông T đánh bà, sau đó ông T bỏ về nhà cha ông T ở. Từ đó cho đến nay bà và ông T không còn sống chung, rất ít khi gặp gỡ nhau, thỉnh thoảng ông T có về nhà thăm con một lúc rồi lại đi luôn. Không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại.
Sau khi bà nộp đơn ly hôn cho Tòa án thì ông T có về nhà thu dọn toàn bộ đồ đạc cá nhân, vợ chồng cũng không nói chuyện, trao đổi gì với nhau. Khoảng 17 giờ ngày 13/4/2025 ông T lại về nhà, to tiếng chửi bới bà, rồi kéo tóc bà lôi từ phòng ngủ ra phòng khách liên tục đấm đá, mặc dù con nhỏ la hét nhưng ông T vẫn chửi và đánh bà, sau đó ngày 16/4/2025 ông T tiếp tục đánh bà thì bà có báo Công an phường Phước Mỹ (nay là Công an phường Bảo An) để giải quyết. Nay do mâu thuẫn kéo dài, thật sự trầm trọng bà không còn tình cảm với ông T nên đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung là Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 23/01/2020. Khi ly hôn, bà đề nghị giao con cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay con đang sống với bà, bà làm nghề giữ trẻ tư nhân, thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng, ngoài ra còn được cha, mẹ phụ giúp kinh tế hàng tháng nên bà đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thiện T: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông T nhưng ông vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Hoàng Thị Thùy D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Thiện T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Bị đơn ở phường B, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Ngày 25/6/2025, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông T nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường Bảo An, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39 ngày 11/4/2018 nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà D trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng bà thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống ông T nhiều lần đánh bà. Từ tháng 09 năm 2024 đến nay, bà và ông T không còn sống chung. Sự việc ông T đánh bà D đã được Công an phường Phước Mỹ (nay là Công an phường Bảo An) lập biên bản làm việc ngày 23/4/2025, điều đó thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông T là có thật. Đối với ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng ông T không đến Tòa án để làm việc, có thái độ bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, hôn nhân giữa bà D và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
Về con chung: Bà D và ông T có 01 con chung là Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 23/01/2020. Xét yêu cầu được nuôi con của bà D, thấy rằng: Từ trước đến nay cháu T1 đều do bà D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà D làm nghề giữ trẻ thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng và còn được ba, mẹ phụ giúp chăm con nên đủ điều kiện để nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Thùy D.
1. Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thùy D được ly hôn với ông Nguyễn Thiện T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 23/01/2020 cho bà Hoàng Thị Thùy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông Nguyễn Thiện T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Hoàng Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001089 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa). bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa; - UBND phường Bảo An, tỉnh Khánh Hòa ( GCNKH số 39, ngày 11/4/2018); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Diệu |