- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Lê Tấn H.
- Căn cứ chính? Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27- 6- 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Anh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến.
Ông Huỳnh Tấn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Duy– Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà H’Đơk Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1985- Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông Lê Tấn H, sinh năm 1983 - Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T trình bày:
Bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Tấn H đến với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 01/4/2003. Sau khi về sống chung vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên hiện nay không còn tình cảm yêu thương, chăm sóc nhau nữa, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuận vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa năm 2023 bà Trần Thị Thanh T đã làm đơn xin ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho về đoàn tụ và bà Trần Thị Thanh T đã rút đơn, Tòa án đã đình chỉ vụ án.
Nay vợ chồng không thể đoàn tụ được với nhau, nên bà Trần Thị Thanh T đề nghị được ly hôn với ông Lê Tấn H.
Về con chung: Vợ chồng sinh được 03 con chung là cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005; Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008.
Sau khi ly hôn bà Trần Thị Thanh T có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008 cho đến lúc trưởng thành.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu ông Lê Tấn H phải cấp dưỡng nuôi con.
Riêng cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005 hiện nay đã trên 18 tuổi, cháu tự quyết định cuộc sống riêng của mình, bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Tấn H không đến tòa làm việc, trình bày ý kiến của mình.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án.
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án; điểm a, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024. Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng.
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Lê Tấn H.
Về con chung: Giao cháu Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008 cho bà Trần Thị Thanh T chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi);
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T đề ngày 07/3/2025, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS.
Về thẩm quyền: Tại thời điểm bà Trần Thị Thanh T làm đơn khởi kiện, bị đơn ông Lê Tấn H, cư trú tại thôn B, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về chấp hành quy định pháp luật: Sau khi thụ lý vụ án, do không tống đạt trực tiếp được cho ông Lê Tấn H, Toà án đã giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với ông Lê Tấn H và yêu cầu cam kết giao lại tận tay ngay cho ông Lê Tấn H là đảm bảo việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại khoản 5 Điều 177 BLTTDS. Tuy nhiên, ông Lê Tấn H không tham gia tố tụng cũng như không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hoà giải là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa lần thứ nhất, ông Lê Tấn H vắng mặt, nên HĐXX đã hoãn phiên tòa và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho ông Lê Tấn H. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lê Tấn H vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX áp dụng Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Tấn H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 01/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005; Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008.
Kết quả xác minh, chính quyền địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Tấn H, vì vợ chồng không thông báo nguyên nhân mâu thuẫn và nhờ ban tự quản tổ dân phố hòa giải cho hai vợ chồng về đoàn tụ. Quá trình tham gia tố tụng bà Trần Thị Thanh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay và trước đây giữa năm 2023 bà Trần Thị Thanh T đã làm đơn xin ly hôn và Tòa án đã hòa giải cho về đoàn tụ, nay vợ chồng không thể chung sống được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Còn ông Lê Tấn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không lên Tòa trình bày ý kiến.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”
Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tối cao “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: “Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”
Xét thấy, bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Tấn H không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng đã bỏ mặc nhau, nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T, cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Lê Tấn H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị Thanh T và ông Lê Tấn H có 3 con chung là cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005; Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008.
Cháu Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008, hiện nay cháu đang còn nhỏ và do bà Trần Thị Thanh T chăm sóc, bà Trần Thị Thanh T có nguyện vọng sau khi ly hôn thì xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến lúc cháu trưởng thành, cháu D hiện nay đã trên 7 tuổi và cũng có nguyện vọng ở với bà T. Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Tấn H cũng không có mặt để xác định nguyện vọng của ông về việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy nguyện vọng của bà Trần Thị Thanh T là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, giao cháu Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành. Ông Lê Tấn H được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu ông Lê Tấn H cấp dưỡng tiền nuôi cháu Lê Thị Ngọc D, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Riêng cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005 đã đến tuổi trưởng thành, cháu tự quyết định cuộc sống riêng của mình, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu, nên HĐXX không đề cập xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là phù hợp, HĐXX cần chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Lê Tấn H.
Về con chung: Giao cháu Lê Thị Ngọc D, sinh ngày 27/9/2008 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.
Ông Lê Tấn H được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Lê Tấn H không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu ông Lê Tấn H cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Riêng cháu Lê Thị Ngọc C, sinh ngày 17/9/2003; Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 21/01/2005 đã đến tuổi trưởng thành, cháu tự quyết định cuộc sống riêng của mình, HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0008729 ngày 27/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T, bị đơn ông Lê Tấn H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Ana; - THADS huyện K; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã B; - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các hội thẩm nhân dân Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chu Anh Hùng THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CHU ANH HÙNG THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CHU ANH HÙNG Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quá trinh tố tụng Tòa án có mời các cháu đến lấy ý kiến, nguyện vọng của Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |