- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HUYNH LAN V- PHAN THANH Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lan V đối với ông Phan Thành Đ về Vệc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-07-2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nữ.
2. Ông Nguyễn Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 15
- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 234/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Lan V, sinh năm 2000; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai), vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Thành Đ, sinh năm 2001; địa chỉ: Số X, đường Trần Văn Ơn, Tổ 3, Khu phố 6, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh). Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đắk P’Lao, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Lan V trình bày:
Bà Huỳnh Lan V và ông Phan Thành Đ đăng ký kết hôn năm 2022. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi đăng ký kết hôn bà Huỳnh Lan V và ông Phan Thành Đ sống chung với nhau được mấy tháng nhưng chưa tổ chức đám cưới thì xảy ra mâu thuẫn không còn sống chung với nhau và cũng không tiến hành tổ chức đám cưới, bà V về nhà tại Bình Phước sinh sống còn ông Đ thì sinh sống tại Bình Dương không còn liên lạc với nhau. Sau khi ông Đ bị bắt về tội trộm cắp tài sản được khoảng 01 tháng thì bà V được người bạn của ông Đ thông báo Vệc ông Đ bị bắt. Bà V hoàn toàn không biết người thân trong gia đình ông Đ và từ khi ly thân đến nay cũng không gặp ông Đ. Hiện nay, bà V và ông Đ không còn tình cảm với nhau và đã sống ly thân, không thể hàn gắn được nên bà V yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 30/6/2025, bị đơn ông Phan Thành Đ trình bày: Ông Phan Thành Đ và bà Huỳnh Lan V kết hôn năm 2022, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bình thường về sau thì xảy ra mâu thuẫn hay cãi nhau và đã sống ly thân. Ông Đ đồng ý ly hôn với bà V. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Hiện nay ông Đ đang chấp hành án tại trại giam Đắk P’Lao không thể tham gia giải quyết vụ án được nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Huỳnh Lan V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Phan Thành Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Kiểm sát Vên tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Các đương sự có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát Vên không kiến nghị khắc phục gì thêm.
+ Về Vệc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Đại diện Vện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ngày 10/4/2025, bà Huỳnh Lan V có đơn khởi kiện về Vệc xin ly hôn với ông Phan Thành Đ nên đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thẩm quyền: Bị đơn ông Phan Thành Đ có nơi cư trú tại phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về Vệc tham gia phiên tòa của đương sự: Nguyên đơn bà Huỳnh Lan V và bị đơn ông Phan Thành Đ có đơn đề nghị xét xử vắng nên căn cứ vào các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Lan V và ông Phan Thành Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại UBND phường Phú Hoà, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 190, ngày 08 tháng 12 năm 2022 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại các điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy, bà Huỳnh Lan V và ông Phan Thành Đ thống nhất vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện nay không còn tình cảm và đã ly thân không thể hàn gắn được nên thống nhất ly hôn. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lan V về Vệc xin ly hôn với ông Phan Thành Đ.
Về con chung: Các đương sự khai không có con cung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy, quan điểm giải quyết vụ án của Vện kiểm sát nhân Khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Huỳnh Lan V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); ông Phan Thành Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;
- Căn cứ các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Lan V đối với ông Phan Thành Đ về Vệc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Lan V được ly hôn đối với ông Phan Thành Đ.
- Về con chung: Các đương sự khai không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Lan V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001733 ngày 14/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 15 – TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh; - Ủy ban nhân dân phường Phú Lợi; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Phương |