vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Đỗ Bảo L, sinh ngày 13/7/2024, anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Đỗ Trung H1, sinh ngày 31/8/2022. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con (hiện nay cháu L đang ở cùng chị H và cháu H1 đang ở cùng anh T). Người không trực ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên Thị H - Đỗ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 8 năm 2025
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà

Ông Lê Hữu Vị

Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ.

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nay là: Thôn T, xã H, tỉnh Phú Thọ; (có mặt)

- Bị đơn: Đỗ Văn T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Th, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nay là: Thôn Th, xã H, tỉnh Phú Thọ; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Đỗ Văn T ngày 14/4/2022 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và không bị ai lừa dối, ép buộc kết hôn. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh T ngay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T thường xuyên uống rượu, chơi bời cờ bạc, lô đề nên vợ chồng xảy ra cãi chửi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 6 năm 2024 chị về bố mẹ đẻ ở tại thôn T và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Khi vợ chồng sống ly thân hai bên gia đình có giàn xếp hòa giải nhưng không thành, vợ chồng cũng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Nay chị xác định đời sống chung đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Trung H1, sinh ngày 31/8/2022 và Đỗ Bảo L, sinh ngày 13/7/2024. Hiện nay cháu L đang ở cùng chị H và cháu H1 đang ở cùng anh T. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, để anh T nuôi dưỡng cháu H và hai bên phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có quan điểm trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận về điều kiện kết hôn, thời điểm kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống như chị H trình bày là đúng. Anh T xác nhận quá trình vợ chồng chung sống đến tháng 5 năm 2024 do bất đồng quan điểm về làm ăn kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, không còn yêu thương, tôn trọng nhau.Tháng 6 năm 2024 chị H về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định không còn tình cảm vợ chồng nhưng không không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Trung H1 sinh ngày 31/8/2022 và Đỗ Bảo L, sinh ngày 13/7/2024. Hiện nay cháu H1 đang ở cùng anh và cháu L đang ở cùng chị H. Ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: anh T không đề nghị giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và bị đơn không chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T. Về nuôi con: Giao cho chị H nuôi dưỡng cháu L và anh T nuôi cháu H1. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Văn T đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 4 năm 2022 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày do anh T chơi bời cờ bạc, lô đề nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn kéo dài đến tháng 6 năm 2024 vợ chồng sống ly thân và không quan tâm, chăm sóc nhau. Trong thời gian sống ly thân hai bên đều không có biện pháp nào để cải thiện tình cảm, khắc phục mâu thuẫn. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, hai bên không quan tâm, chăm sóc nhau nên mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, chị H xác nhận không còn tình cảm và đề nghị giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T.

Về nuôi con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Đỗ Trung H1, sinh ngày 31/8/2022 và Đỗ Bảo L, sinh ngày 13/7/2024. Hiện nay cháu H1 đang ở cùng anh T và cháu L đang ở cùng chị H. Ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, để anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, còn anh T đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con. Xét thấy điều kiện hiện nay cả anh T và chị H đều có chỗ ở, thu nhập ổn định, có đầy đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Nhưng để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên cha, mẹ, cũng là đảm bảo quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc của các con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cháu L còn nhỏ hiện nay dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho mẹ đẻ là chị H chăm sóc và giao cháu H1 cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo sinh hoạt thuận tiện, tránh xáo trộn trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về người trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H và anh T không yêu cầu không đề nghị giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Chị H và anh T không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T.

2.Về con chung: Chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Đỗ Bảo L, sinh ngày 13/7/2024, anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Đỗ Trung H1, sinh ngày 31/8/2022. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con (hiện nay cháu L đang ở cùng chị H và cháu H1 đang ở cùng anh T).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0001285 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Phú Thọ).

4.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ