vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn N.

Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc S, sinh ngày 06/01/2018 cho anh Phạm Văn N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị Phạm Thị L được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Phạm Thị L - Phạm Văn N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị Quyết

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TH
Bản án số:18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 9 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Thành

Ông Phạm Thanh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, khu vực 10 - TH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L - Sinh năm 1991

Nơi đăng ký thường trú: Làng N, xã MS, tỉnh TH.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn K, xã NA, tỉnh TH.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn N - Sinh năm 1994

Địa chỉ: Làng N, xã MS, tỉnh TH.

Tại phiên toà vắng mặt CL và anh N, chị Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử

vắng mặt, anh Phạm Văn N vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày: Chị và anh Phạm Văn N tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CN, (nay là xã MS), tỉnh TH vào ngày 13/4/2015, theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ, chồng sống hoà thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai vợ chồng không hợp nhau về quan điểm sống, nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Khi mâu thuẫn xảy ra cũng đã được hai bên gia đình dàn xếp nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2023 anh N đi làm ăn xa còn chị thì về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc S, sinh ngày 06/01/2018. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Phạm Ngọc S cho anh Phạm Văn N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi các cháu đến tuổi thành niên. Chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với anh Phạm Văn N mỗi tháng 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) cho đến tuổi thành niên.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn N để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của CL nhưng anh N không có mặt nên không có lời khai của anh N và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Văn N không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn N. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc S, sinh ngày 06/01/2018. Đề nghị chấp nhận sự tự nguyện của đương sự và ý kiến của con về việc giao nuôi con chung, giao cháu Phạm Ngọc S cho anh Phạm Văn N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị Phạm Thị L cấp dưỡng nuôi con cùng anh N mỗi tháng 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Chị Phạm Thị L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Chị Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Phạm Văn N. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10

- TH.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Phạm Văn N không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

Anh Phạm Văn N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh N không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn N lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh N vẫn không có mặt mà không có lý do. Chị Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định vào các Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn N.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Ngọc (nay là xã Minh Sơn), tỉnh TH vào ngày 13/4/2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống nên hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, việc này cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh N lên làm việc để anh N được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh N đều không có mặt, thể hiện anh N có ý bỏ mặc, không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại biên bản làm việc ngày 25/6/2025 anh N có chia sẻ quan điểm, nếu chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn. Đến thời điểm hiện tại chị L vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị L và anh N đã lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn N.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn N có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc S, sinh ngày 06/01/2018. Ly hôn chị L đề nghị Tòa án giải quyết giao hai cháu Phạm Ngọc S cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường về mọi mặt của con, cũng theo nguyện vọng của con, HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của đương sự, giao cháu Phạm Ngọc S cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng sau khi ly hôn giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh N mỗi tháng 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho đến khi con đến tuổi thành niên. Xét yêu cầu của chị L là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về chia tài sản chung: Chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Buộc chị Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147;227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn N.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc S, sinh ngày 06/01/2018 cho anh Phạm Văn N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Chị Phạm Thị L được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị L cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phạm Văn N mỗi tháng 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) cho đến khi con đến tuổi thành niên. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 9 năm 2025.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng án phí chị L phải chịu là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0007618 ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh TH. (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 - TH)

Chị Phạm Thị L còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị L và anh N. Chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ