vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ. Về con chung: Giao con chung cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013 cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nông Thị H xin ly hôn với anh Ngô Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08 - 5 - 2025
V/v ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Hoàng Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 486/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 22/4/2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị H, sinh năm 1993; HKTT: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Số nhà B, đường số E, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

2. Bị đơn: Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Nông Thị H trình bày: Chị H và anh Ngô Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 01/01/2013 tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, bất đồng về kinh tế. Anh Đ hay ghen tuông, không chịu làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi vã to tiếng, anh Đ không tôn trọng hay chia sẻ cuộc sống vợ chồng. Cuối năm 2019 vợ chồng sống ly thân, nhưng vì nghĩ đến con cái, anh Đ cũng xin lỗi và hứa sẽ thay đổi nên cuối năm 2020 vợ chồng về chung sống với nhau. Sau khi về chung sống lại anh Đ không thay đổi tính nết vẫn ham chơi, không lo làm ăn, thường xuyên ghen tuông vô cớ, đánh đập chị H nên khoảng tháng 5/2021 chị H về nhà bố mẹ đẻ rồi vào tỉnh Bình Dương sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013. Từ tháng 5/2021 khi vợ chồng sống ly thân thì anh Đ và gia đình giành nuôi cháu T và ngăn cản không cho chị H tới thăm nom. Hiện nay cháu T đang ở và học tập ổn định cùng bố và ông bà nội nên chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn được tiếp tục giao cháu T cho anh Đ nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn anh Ngô Văn Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai. Qua biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân thì Chính quyền địa phương cho biết: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh Đ cụ thể như thế nào thì ban tự quản thôn không nắm rõ vì không yêu cầu hòa giải tại địa phương. Hiện nay chị H không còn sinh sống tại địa phương. Chị H, anh Đ có 01 người con chung là cháu T, hiện đang sinh sống ổn định cùng anh Đ và ông bà nội. Tòa án kết hợp cùng chính quyền địa phương tới nhà anh Đ để tiến hành lấy lời khai của cháu T. Tuy nhiên, anh Đ và gia đình không cho Tòa án tiếp cận để lấy lời khai của cháu T.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Chị Nông Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ. Về con chung: Giao con chung cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013 cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Chị Nông Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Ngô Văn Đ có nơi cư trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nông Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Ngô Văn Đ mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Nông Thị H với anh Ngô Văn Đ tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29/6/2018. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng: Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, cũng như quá trình tham gia tố tụng chị Nông Thị H trình bày: Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, bất đồng về quan điểm sống. Cuối năm 2019 vợ chồng sống ly thân, nhưng vì nghĩ đến con cái, anh Đ cũng xin lỗi và hứa sẽ thay đổi nên cuối năm 2020 vợ chồng về chung sống với nhau. Sau khi về chung sống lại anh Đ vẫn ham chơi, không lo làm ăn, thường xuyên ghen tuông, đánh đập nên khoảng tháng 5/2021 chị H về nhà bố mẹ đẻ rồi vào tỉnh Bình Dương sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tòa án đã cho chị H có thời gian suy nghĩ chuyện tình cảm vợ chồng, nhưng chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không có hướng khắc phục, thời gian sống ly thân kéo dài, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn nên chị giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập lên ghi nhận lời khai và hòa giải nhưng anh Đ không hợp tác. Như vậy, HĐXX xác định quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho chị Nông Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

Về con chung gồm: Chị Nông Thị H có nguyện vọng giao con chung cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013 cho anh Ngô Văn Đ nuôi dưỡng, vì hiện nay chị H đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương không có nhà cửa ổn định, việc chăm sóc con không được tốt, ngoài ra con chung con chung đang ở với anh Đ từ tháng 5/2021 đến nay.

Quá trình giải quyết Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn anh Đ và cũng không tiến hành hỏi nguyện vọng của con chung trên 7 tuổi được vì anh Đ không hợp tác làm việc và không cho Tòa án tiếp cận lấy lời khai của cháu T.

Theo tinh thần tại giải đáp số 01/GĐ TANDTC, ngày 05 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao tại mục 8 phần II thì: “….thì nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Mặt khác, theo quy định tại Điều 214, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc không lấy được lời khai của các con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Do vậy, Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để xem xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con”.

Tuy không lấy được lời khai của con chung trên 7 tuổi, nhưng theo chị H trình bày cũng như tại biên bản xác minh thì chính quyền địa phương cung cấp, cháu T do anh Đ và ông bà nội nuôi dưỡng từ năm 2021 cho đến nay, cháu sinh sống và học tập ổn định và chị H cũng có nguyện vọng giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. HĐXX xét thấy, hiện nay con đang chung sống, học tập ổn định cùng anh Đ. Do đó, xét yêu cầu của chị Nông Thị H, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giao con chung cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013 cho anh Ngô Văn Đ nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Đ, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Trường hợp anh Đ có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết trong vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nông Thị H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nông Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị H được ly hôn với anh Ngô Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung cháu Ngô Thanh T, sinh ngày 11/5/2013 cho anh Ngô Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị Nông Thị H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nông Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2023/0014339 ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

5. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ